Tâm sự

Tâm sự

jeudi 22 juin 2017

Kim mai lá lớn - Witch-hazel

Witch-hazel
Kim mai lá lớn
Hamamelis virginiana -L.
Hamamelidaceae
Đại cương :
Scientific Name(s): Cây Kim mai lá lớn Hamamelis virginiana L. (Đồng nghĩa : Hamamelis macrophylla ).
▪ Hamamelis virginiana L. (hamamélis) Cây Kim mai lá lớn Hamamelis virginiana est membre des Hamamelidaceae (Famille de hamamélis).
Tên thông thường gồm như : Witch hazel, Cortex Hamamelis ( vỏ khô ), Folium Hamamelis (lá khô hay tươi ), Hamamelis, Hamamelis water, magician's rod, snapping hazel, spotted alder, tobacco wood, white hazel, winter bloom
Hamamelis virginiana là một loài của họ Hamamelidaceae. Chỉ có 1 loài của giống Hamamelis là được tìm gặp trong Bắc Mỹ Amérique du Nord, từ Nouvelle-Ecose đến Wisconsin  ở phía Bắc và từ Bắc Floride đến nam Texas và Ontario ở Canada.
Cây thích sống ở những sườn núi, những bờ sông, hàng rào, và ở những nơi khác có bóng mát và thoát nước tốt.
Cây có nguồn gốc ở những khu rừng ẩm ướt trong những Tiểu Bang miền Đông và Trung Hoa Kỳ (Grieve, 2003).
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Tiểu mộc bụi, nhỏ với lá rụng mùa đông, bao gồm một số thân rậm dầy đặc, phân nhánh quanh co, đường kính của gốc khoảng từ 10 đến 15 cm đường kính, cao khoảng từ 6 m (ít khi đạt đến 10 m ), với một vỏ màu nâu xám hoặc tím đỏ, trơn láng, có vảy, vân vảy xếp theo chiều dọc.
Những nhánh đầu tiên có lông, sau đó trở nên láng, màu  nâu cam sáng, đánh dấu bởi những chấm trắng cuối cùng trở nên màu nâu đậm hoặc đỏ nhạt, mềm dịu linh hoạt, gỗ bên trong màu xanh xanh lá cây, nhỏ.
Những chồi lá nhọn, hơi giống hình lưỡi liềm, mềm, màu nâu sáng.
, hình bầu dục, từ 3,7 đến 16,7 cm dài và từ 2,5 đến 13 cm rộng, dạng xiên ở đáy lá, nhọn hoặc tròn ở đỉnh, với bìa lá dợn sóng răng cưa hoặc hơi có thùy, cuống lá ngắn và cứng chắc từ 6 đến 15 mm dài, mọc cách. Gân chánh có ít hay nhiều lông, cứng chắc, vớ 6 hay 7 đôi gân lá thứ cấp, với những đốm trắng nổi lên ở mặt dưới lá.
Những lá non, mở ra cuốn xoắn ốc, được bao phủ bởi những gỉ hình sao, khi có đầy đủ, lá non có màu xanh đậm ở trên và màu nhạt bên dưới.
Phát hoa, chùm, 3 hoặc 4 hoa, trong một lớp bọc bên ngoài.
Hoa, vàng trên 1 cuống hoa ngắn,  mọc ở nách lá dưới dạng hình cầu không cuống, gồm có :
- đài hoa, nhỏ, chia thành 4 phần dày, hình bầu dục và bị hư hỏng, với một sự bám dính của 2 hoặc 3 lá bắc ở đáy hoa. Hoa màu nhạt đổi sang màu vàng tươi, ít khi màu cam hoặc đỏ nhạt, dính vào bầu noãn bên dưới đáy.
- cánh hoa, 4 cánh, màu vàng, có dạng một băng vải, khoảng từ 10 đến 20 mm dài, thẳng, dợn sóng hoặc hình xoắn.
- tiểu nhụy, mọc thành cụm, gồm 4 vô trùng không thụ, dạng cái thang, trước mặt những cánh hoa, xen kẻ với 4 tiểu nhụy thụ fertiles.
- bầu noãn, hình bầu dục, 2 vòi nhụy, ngắn, nướm tù.
Trái, nang, gỗ cứng, từ 10 đến 14 mm dài, khai bằng cách mở ra ở đỉnh khi trưởng thành sau 1 năm thụ phấn, bằng cách phóng thích 2 hạt đen sáng cách xa đến 10 m đối với cây mẹ.
Hạt, được bắn dữ dội khi trưởng thành, những hạt thuôn dài, đen bóng, nhưng nhanh chóng đàn hồi thành 2 mảnh.
Bộ phận sử dụng :
Vỏ cây, lá, cành cây, vỏ hạt.
▪ Những nhánh và những cành Cây Kim mai lá lớn Hamamelis virginiana được thu hoạch để cho vỏ Cây vào mùa xuân.
▪ Những Cây Kim mai lá lớn Hamamelis virginiana được thu hoạch vào mùa hè và có thể sấy khô bảo quản để sử dụng về sau.
Thành phần hóa học và dược chất :
▪ Thành phần của những (officielle de la Pharmacopée des États-Unis), :
- những acides tanniquegallique,
- một nguyên chất đắng principe amère không rõ,
- và một số nhất định dầu dễ bay hơi huile volatile.
▪ Vỏ Cây Kim mai lá lớn Hamamelis virginiana chủ yếu chứa những thành phần polyphénols, bao gồm :
- tanins,
- những acides phénoliques
- và những flavonoïdes.
- một phần vô định hình amorphes,
- và phần của những tinh thể cristaux,
- acide gallique,
- physterol,
- chất béo graisse,
- và chất đắng khác corps amers,
- và mùi thơm odorants.
▪ Có ít nhất 27 thành phần hợp chất phénoliques đã được xác định bằng cách sử dụng :
- sắc ký lỏng có áp xuất cao chromatographie liquide haute pression,
- sắc  ký lỏng chromatographie liquide,
- và những phương pháp quang phổ khối lượng spectrométrie de masse.
▪ Những phương pháp định lượng quantification của :
- acide gallic,
- hamamelitannine ( khoảng 1,5% trong những và đến 65% trong vỏ ),
- và những proanthocyanidines cũng đã được mô tả.
▪ Những chất gallotannins là không ổn định với nhiệt độ instables à la chaleur.
Bởi vì nước của Cây Kim mai lá lớn Hamamelis virginiana là một dung dịch chưng cất hơi nước của trích xuất, nó không chứa chất tanins.
▪ Những thành phần khác bao gồm :
- kaempferol,
- quercétine,
- những đồng phân isomères của acide chlorogénique,
- và những acides hydroxycinnamiques.
▪ Dầu dễ bay hơi có chứa một số lượng nhỏ của :
- safrole,
- và eugénol
cũng như nhiều thành phần nhỏ khác, như là :
- chất nhựa résine,
- sáp cire,
- và choline.
Cây Kim mai lá lớn Hamamelis virginiana chứa từ 3 đến 10% :
- tanins
( một hỗn hợp của catéchines, gallotannines, cộng thêm cyanidineproanthocyanidines của loại delphinidine),
- hamamélose chủ yếu (Wichtl, 1989);
Catéchines, chủ yếu gồm :
- (+) - catéchine,
- (+) - gallocatechine,
- (-) - gallate d'épicatéchine,
- (-) - gallate d'épigallocatéchine;
▪ Acides phénoliques (acides caféique và gallique);
▪ Fluconoïdes galactosides và glucuronides;
▪ Những flavonoïdes như là :
- kaempherol,
- quercétine,
- quercitrine,
- và isoquercitrine
(Hänsel và al, 1993; ESCOP, 1997; Sagareishvili, TG và al., 1999; Kaul, R và al., 2001).
▪ 0,01-0,5% dầu dễ bay hơi huile volatile (Meyer-Buchtela, 1999; Wichtl, 1989),
trong đó gồm có :
- 40% là những alcools aliphatiques,
- 25% thành phần hợp chất carbonyliques,
- 15% esters aliphatiques,
- và một tối đa của 0,2% safrol (Wichtl và Bisset, 1994) .
▪ Theo Hager, những Cây Kim mai lá lớn Hamamelis virginiana một lượng nhỏ của :
- hamamelitannine.
Thuật ngữ  « hamamelin » ghi nhận trong những tài liệu cho những Cây Kim mai lá lớn là một chế phầm thu được bàng cách kết tủa một trích xuất alcoole cô đặc của những bột lá .
Vỏ màu nâu chứa :
- từ 8 đến 12% chất tanins ( hàm lượng tối thiểu được đề nghị cho 4% tannins).
▪ Những thành phần tanins của vỏ phẩm chất tương tự như tanins của , như có hàm lượng chất hamamelitannine cao hơn (1-7%), tiếp theo sau là :
- monogalloylhamamélose,
- acide gallic tự do,
- catéchine tanins cô đặc condensée,
- và một lượng nhỏ của flavonols;
▪ Khoảng 0,1% của dầu dễ bay hơi với thành phần hợp chất rất phức tạp (Hänsel và al, 1993; Wichtl, 1996; Meyer-Buchtela, 1999; Wang et al, 2003).
▪ Vỏ chứa những mức độ đáng kể của phénylpropanoïdessesquiterpénoïdes cao hơn trong những phần đoạn dễ bay hơi so với , chứa những lượng cao hơn của monoterpénoïdes.
Vỏ giàu nhất chất tanins tan được trong nước và những lá chứa chủ yếu của những chất tanins cô đặc.
Đặc tính trị liệu :
▪ Cây Kim mai lá lớn Hamamelis virginiana được sử dụng rộng rãi như một ứng dụng bên ngoài cơ thể cho những trường hợp :
- những vết thâm tím bleus,
- đau cơ muscles endoloris,
- giãn tĩnh mạch varices,
- bệnh trĩ hémorroïdes,
- đau vú mamelons douloureux,
- viêm inflammations, …v …v….
Vỏ Cây Kim mai lá lớn Hamamelis virginiana có đặc tính :
- làm se thắt astringente,
- cầm máu hémostatique,
- an thần sédative,
- và là thuốc bổ tonique.
▪ Những thành phần tanins trong vỏ Cây Kim mai lá lớn Hamamelis virginiana được cho là trách nhiệm của những đặc tính của nó :
- làm se thắt astringentes,
- và cầm máu hémostatiques.
Nước của Cây Kim mai lá lớn Hamamelis virginiana đóng trong chai là một nước cất hơi nước distillat à la vapeur, trong đó không chứa những thành phần tanins từ những Cây tiểu mộc bụi, điều này ít có hiệu quả trong hành động của nó so với dung dịch trong cồn teinture.
Vỏ của Cây Kim mai lá lớn Hamamelis virginiana được sử dụng bên trong cơ thể trong chữa trị :
- tiêu chảy diarrhée,
- viêm đại tràng colite,
- bệnh kiết lỵ dysenterie,
- bệnh trĩ hémorroïdes,
- những xả thải âm đạo pertes vaginales (vaginal discharge),
- kinh nguyệt quá nhiều menstruations excessives,
- nội xuất huyết saignements internes,
- và những cơ quan sa xuống ( sa tử cung ) organes prolapsus.
▪ Những đặc tính của những và những vỏ Cây Kim mai lá lớn Hamamelis virginiana là tương tự nhau, ở những tính chất  :
- làm se thắt astringentes,
- thuốc bổ toniques,
- an thần sédatives,
có giá trị để kiểm xoát :
- những bệnh trĩ nội hémorragies internes và trĩ ngoại externes,
những hiệu quả nhất trong chữa trị :
- những trĩ bị viêm piles,
▪ Một thuốc giảm đau analgésique tốt, lợi ích cho :
- những vết bầm tím ecchymoses,
- và viêm sưng gonflements inflammatoires,
cũng cho :
- tiêu chảy diarrhée,
- bệnh kiết lỵ dysenterie,
- và những niêm mạc muqueuses.
▪ Cây Kim mai lá lớn Hamamelis virginiana đã được cho là lợi ích cho một hành động trên :
- sợi cơ của những tĩnh mạch fibre musculaire des veines.
▪ Trích xuất chưng cất của những lá tươi và những nhánh non của Cây Kim mai lá lớn Hamamelis virginiana, tạo thành một phương thuốc tuyệt vời cho sự sử dụng bên trong hoặc bên ngoài cơ thể, điều này là lợi ích cho :
- chảy máu từ phổi saignement des poumons,
- và mũi nez,
cũng như của những nội tạng khác.
▪ Trong chữa trị giãn tĩnh mạch varices, nó phải được áp dụng trên một băng gạt vải, cần phải được giữ ẩm liên tục : một miếng đệm của Cây Kim mai lá lớn Hamamelis virginiana được áp dụng cho :
- giãn tĩnh mạch veine variqueuse ngưng chảy máu interrompant le saignement,
- và thường cứu sống trong phương cách áp dụng ngay lập tức.
▪ Trích xuất của Cây Kim mai lá lớn Hamamelis virginiana đã được sử dụng, như một phương thuốc gia đình nói chung để :
- những phỏng cháy brûlures,
- những phỏng nước sôi échaudures,
- và những điều kiện viêm da inflammatoires de la peau nói chung,
và nó vẫn còn được sử dụng nói chung.
▪ Trong những trường hợp của những côn trùng chích piqûres d'insectes và muỗi, một miếng bông đệm tẩm ướt với trích xuất thảo dược và áp dụng nơi vùng ảnh hưởng, sẽ sớm gây ra một sự giảm của :
- đau nhức douleur,
- và sưng enflure.
▪ Pha loãng với nước nóng, trích xuất được sử dụng cho :
- viêm mí mắt inflammation des paupières.
▪ Một phương thuốc vi lượng đồng căn homéopathique được chế tạo từ những vỏ Cây tươi. Nó được sử dụng trong chữa trị :
- chảy máu cam saignements de nez,
- những trĩ bị viêm piles,
- và những giãn tĩnh mạch varices.
Chủ trị : indications
● Chỉ định và sự sử dụng đặc biệt.
▪ Suy nhược tĩnh mạch déficience veineuse, với :
- sự thư giản relaxation ,
- và sung mản plénitude;
▪ Những mô nhầy màu nhạt tissus muqueux pâles (đôi khi có màu đỏ đậm từ sự tắc nghẽn tĩnh mạch engorgement veineux hoặc màu xanh dương của khối ứ trong tĩnh mạch stase veineuse);
▪ chất nhầy xả thải ra ngoài, với :
- sự thư giãn tĩnh mạch veineuse;
▪ Xuất huyết thụ động hémorragies passives;
▪ giãn tĩnh mạch varicoses;
▪ huyết ứ mao quản stase capillaire;
▪ những bệnh trĩ hémorroïdes, với :
- cảm giác đầy đủ sentiment plein;
▪ thư giản détendus và đau cổ họng maux de gorge ;
▪ làm bớt đau nhức và đau đớn trong :
- trực tràng douloureuses dans le rectum,
- vùng xương chậu bassin,
- hoặc những cơ quan phụ nữ organes féminins;
▪ thư giãn vùng tầng sinh môn ( hạ bộ ) relaxation périnéale, với  sự sung mản plénitude;
▪ thư giãn bắp cơ relaxation musculaire;
▪ đau nhức bắp cơ và đau và cảm giác bầm dập sensation de meurtrissure, hoặc là do lạnh froid, sự tiếp xúc exposition, những vết bầm tím ecchymoses, những rán sức, hoặc những cố gắng thể chất efforts physiques.
Kinh nghiệm dân gian :
▪ Theo truyền thống, những thổ dân bản địa Bắc Mỹ Amérique du Nord đã biết Cây Kim mai lá lớn Hamamelis virginiana như để chữa trị :
- những ung bướu khối u tumeurs,
- và những bệnh viêm mắt inflammations des yeux.
Nó đã được sử dụng bên trong cơ thể cho :
- xuất huyết hémorragie.
Những sử dụng khác bao gồm chữa trị :
- những bệnh trĩ hémorroïdes,
- phỏng cháy brûlures,
- ung thư cancers,
- bệnh lao tuberculose,
- những cảm lạnh rhumes,
- và bệnh sốt fièvre.
Những chế phẩm, đã được sử dụng tại chổ để chữa trị :
- triệu chứng những bệnh ngứa symptomatique des démangeaisons,
- và những bệnh viêm da khác inflamations de la peau,
và trong những chế phẩm mắt ophtalmiques cho :
- kích ứng irritation.
▪ Đã có một thời gian nó được sử dụng bởi những thổ dân bản địa của Bắc Mỹ Amérique du Nord như những thuốc dán đắp cataplasmes cho :
- sưng gonflements,
- và những khối u đau nhức tumeurs douloureux.
▪ Vỏ Cây Kim mai lá lớn Hamamelis virginiana là một thảo dược truyền thống của những thổ dân bản địa của Bắc Mỹ Amérique du Nord, được sử dụng để :
- chữa lành những vết thương guérir les plaies,
- chữa trị ung bướu khối u tumeurs,
- những vấn đề của mắt oeil, ..v…v….
▪ Những thổ dân Bắc Mỹ Amérique du Nord đã sử dụng từ lâu Cây Kim mai lá lớn Hamamelis virginiana như một chất làm se thắt tuyệt diệu astringent, khi những vỏ, những , và những cành được chưng cất và pha trộn với alcool và nước (Fink, 2003).
Nó cũng được sử dụng như :
- dầu xoa bóp liniment,
- rửa mắt lavage oculaire
và chữa trị :
- những bệnh trĩ hémorroïdes,
- nội xuất huyết hémorragies internes,
- đặc biệt trong những phổi poumons,
- và dòng chảy kinh nguyệt quá mức flux menstruel excessif (Fink 2003).
Tuy nhiên, hiệu quả của nó cho những vấn đề kinh nguyệt menstruels không được chứng minh.
▪ Báo chí giáo dân, thúc đẩy sử dụng Cây Kim mai lá lớn Hamamelis virginiana để chữa trị :
- chứng khô âm đạo sécheresse vaginale,
- và những vấn đề kinh nguyệt problèmes menstruels;
Tuy nhiên, không có bằng chứng nào hỗ trợ cho những tuyên bố đặc biệt này (Willhite 2001).
▪ Cây Kim mai lá lớn Hamamelis virginiana đã được sử dụng trong lịch sử như một phương thuốc gia đình tổng quát cho :
- những phỏng cháy brûlures,
- những phỏng nước sôi échaudures,
- và những điều kiện viêm da inflammatoires de la peau.
▪ Hoạt tính quan sát của tác nhân của hoại tử nécrose khối u ung bướu tumorale của thành phần hamamelitannine có thể giải thích sự sử dụng :
- chống xuất huyết antihémorragique,
của Cây Kim mai lá lớn Hamamelis virginiana trong y học truyền thống và sự sử dụng của nó như :
- yếu tố bảo vệ đối với tia cực tím rayonnement UV (Habtemariam, 2002).
Nghiên cứu :
● Kháng khuẩn Antimicrobien :
Những nghiên cứu trong ống nghiệm in vitro cho thấy những đặc thính kháng khuẩn antibactériennes của trích xuất thực vật ( cho cả hai vỏ ) chống lại vi khuẩn :
- Escherichia coli,
- Staphylococcus aureus ( bao gồm những chủng đề kháng ),
- Bacillus subtilis,
- và Enterococcus faecalis.
Hoạt động chống lại những vi khuẩn bactéries gây bệnh nha chu parodontopathiques cũng đã được báo cáo.
Những thử nghiệm lâm sàng cliniques còn thiếu. Ở những người tình nguyện khỏe mạnh, nước chưng cất của Cây Kim mai lá lớn Hamamelis đã chứng minh một hoạt động kháng khuẩn tại chỗ yếu.
Những hiệu quả kháng siêu vi khuẩn antiviraux trong siêu vi khuẩn herpès labial đã được báo cáo trong thử nghiệm lâm sàng của thuốc mỡ pommade của Cây Kim mai lá lớn Hamamelis bởi so với giả dược placebo.
Tuy nhiên, một sự giảm viêm inflammation chỉ ghi nhận ở ngày thứ 8.
● Sự sử dụng da liễu dermatologique :
Những chế phẩm của Cây Kim mai lá lớn Hamamelis virginiana thường được sử dụng cho những điều kiện da liễu dermatologiques trong nhiều nước.
Tuy nhiên những nghiên cứu lâm sàng cliniques của phẩm chất qualité hỗ trợ cho việc sử dụng này còn thiếu.
Những mô hình động vật đã được sử dụng cho thấy những đặc tính làm se thắt astringentes và cầm máu hémostatiques của những trích xuất thực vật.
Với những nồng độ thấp hơn, những trích xuất Cây Kim mai lá lớn Hamamelis virginiana đã giảm khả năng tính thẩm thấu tế bào perméabilité cellulaire, trong khi với những nồng độ cao hơn, một hiệu quả chữa lành vết thương đã được sản xuất bởi ảnh hưởng trên những  chất đạm protéines và mô keo tissue colloïdal.
Những trích xuất lỏng được quản lý bởi đường tiêm injection cho con thỏ đã cũng làm :
- co mạch vasoconstrictifs,
- làm giảm sự thành mủ, chảy mủ suppuration trong da có mủ purulente.
Những nghiên cứu lâm sàng xưa và không kiểm soát đánh giá tính hiệu quả của những chế phẩm của Cây Kim mai lá lớn Hamamelis virginiana trong những điều kiện hậu môn-trực tràng anorectales ( thí dụ như, những trĩ hémorroïdes).
Tương đương với chất bismuth subgallate có công thức C7H5BiO6 đã được chứng minh.
Ở những người tình nguyện khỏe mạnh, những trích xuất tại chỗ của Cây Kim mai lá lớn Hamamelis virginiana đã làm giảm :
- chứng đỏ da érythème
kết quả của sự kích ứng irritation tia cực tím ultraviolette (UV) và chất  hóa học chimique trong một mức độ thấp hơn so với thuốc hydrocortisone 1%, nhưng lớn hơn thuốc kháng histamine ( kháng dị ứng ) antihistaminique (diméthindène).
Trong một nghiên cứu mở nhãn, ( có nghĩa là một nghiên cứu được mở ra trong đó Bác sỉ lẫn bệnh nhân biết được thuốc được đưa ra ), thuốc mỡ  pommade của Cây Kim mai lá lớn Hamamelis virginiana với 6,25% đã có hiệu quả để làm giảm những những triệu chứng liên quan đến :
- những tổn thương nhỏ của da lésions cutanées mineures,
- viêm da dermatite của những mang tã lót couches,
- và viêm cục bộ tại chỗ inflammation localisée của da ở những trẻ em.
Những nghiên cứu lâm sàng cliniques hạn chế trên sự sử dụng của thuốc mỡ Cây Kim mai lá lớn Hamamelis virginiana trong sự quản lý của chóc lỡ eczéma.
Những kết quả của những nghiên cứu này là không rõ ràng équivoques, một số nhất định chỉ định không khác nhau trong thuốc mỡ pommade của Cây Kim mai lá lớn Hamamelis virginiana bởi so với giả dược placebo.
Những polyphénols của Cây Kim mai lá lớn Hamamelis virginiana được sử dụng trong miếng bọt biển éponges của chất keo collagène trong những nghiên cứu trên sự hóa sẹo chữa lành vết thương cicatrisation của những vết thương loét dài hạn.
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
● Độc tính học Toxicologie :
Những thông tin thường thiếu. Trích xuất nước của lá Cây Kim mai lá lớn Hamamelis virginiana không gây ung thư cancérigène cho những động vật gậm nhấm rongeurs khi nó được quản lý tiêm vào dưới da voie sous-cutanée.
Mặc dù dầu dễ bay hơi huile volatile chứa chất safrole gây ung thư cancérogène, nó được tìm thấy trong những số lượng nhỏ hơn so với Cây sassafras một giống Cây của họ Lauraceae.
Những trích xuất Cây Kim mai lá lớn Hamamelis virginiana có sẵn trong thương mại. Tuy nhiên, nó không được đề nghị sử dụng bên trong cơ thể bởi vì độc tính của chất tanine chưa được xác định rõ ràng.
Cây Kim mai lá lớn Hamamelis virginiana chiếm 6% của những biến cố bất lợi được ghi nhận trong hệ thống chống chất độc antipoison của Californie từ janvier 1997 đến juin 1998.
● Phản ứng phụ :
▪ Có thể xảy ra :
- rối loạn dạ dày estomac,
- những buồn nôn nausées,
- ói mữa vomissements,
- và táo bón constipation.
Nếu một trong những hiệu quả  tiếp diển hoặc nghiêm trọng, hảy nhanh chóng gặp ngay với Bác sỉ.
Thông tin tức khắc với Bác sỉ của bạn nếu có những bất kỳ phản ứng phụ nghiêm trọng nào,  quan trọng như :
- đau dạ dày douleur à l'estomac,
- mắt vàng yeux jaunis hoặc da vàng peau,
- nước tiểu đậm màu urine foncée.
Nên gặp Bác sỉ nếu nhận thấy những phản ứng khác hơn.
Ứng dụng :
▪ Đây là một thành phần quan trọng trong :
- những thuốc nhỏ mắt collyres,
- những kem cho da crèmes pour la peau,
- những thuốc mỡ onguents,
- và những thuốc bổ cho da toniques pour la peau.
Cây Kim mai lá lớn Hamamelis virginiana là thuốc bổ tonique và làm se thắt astringent. Cũng có một số nhất định cho là :
- an thần sédatif.
▪ Nước nấu sắc décoction của vỏ Cây Kim mai lá lớn Hamamelis virginiana là rất lợi ích trong :
- ho ra máu hémoptysie,
- nôn ra máu hématémèse,
- và những xuất huyết khác hémorragies,
cũng như trong :
- tiêu chảy diarrhée,
- kiết lỵ dysenterie,
- và những chất thải niêm mạc nhày quá mức muqueuses excessives, với đầy đủ, màu nhạt - và thư giãn những mô tế bào tissus détendus.
▪ Nước nấu sắc décoction đã được sử dụng cho :
- bệnh lao phổi phthisie,
- mủ ở vết thương gleet,
- viêm mắt ophtalmie,
- rong kinh ménorragie,
- và trạng thái suy nhược kết quả do phá thai avortement.
▪ Nó được sử dụng với lợi ích trong :
- bệnh ho lao mới bắt đầu Phthisie naissante;
trong đó nó được cho là hợp nhất những ảnh hưởng vô hại với những phần khác của nó.
▪ Nước nấu sắc décoction có thể có lợi ích của sự sử dụng như một lau rửa hoặc tiêm injection cho :
- đau nhức miệng bouche douloureuse,
- ung bướu khối u đau nhức tumeurs douloureuses,
- bệnh viêm bên ngoài inflammations externes,
- những rối loạn đường ruột troubles intestinaux,
- sa hậu môn prolapsus anal ( rectal ) và tử cung uterin,
- bệnh bạch đới huyết trắng leucorrhée,
- mủ ở vết thương gleet,
- và bệnh viêm mắt, sưng mắt ophtalmie.
▪ Ngâm trong nước đun sôi infusion những Cây Kim mai lá lớn Hamamelis virginiana được sử dụng để giảm những bệnh viêm inflammations, trong chữa tri :
- những trĩ bị viêm piles,
- những trĩ nội hémorragies internes,
- và những viêm mắt inflammations des yeux.
▪ Một trà thé gồm có hoặc vỏ Cây Kim mai lá lớn Hamamelis virginiana có thể dùng tự do với những lợi ích, là tốt cho :
- chảy máu bao tử saignement de l'estomac,
- và những đau đớn của ruột plaintes des intestins,
và một sự tiêm injection của trà thé này là một tuyệt diệu cho :
- những trĩ bị viêm piles chảy máu bên trong saignant vers l'intérieur,
Trong những rối loạn ở phụ nữ, nó chỉ định bởi :
- sự sung mãn tĩnh mạch plénitude veineuse và sự thư giãn relaxation.
- đau ngầm douleur sourde,
- đau đớn douloureuse,
- đau buồng trứng ovarienne được giảm nhẹ bởi những Cây Kim mai lá lớn Hamamelis virginiana
- và trong bệnh huyết trắng bạch đới leucorrhée, với sự sung mãn plénitude của những tĩnh  mạch vùng chậu veines pelviennes
- và sự thư giãn cuỉa những màng tử cung parois utérines và âm đạo vaginales,
Tiếp xúc của chúng vào bên trongbên ngoài, thể hiện một lợi ích đáng ghi nhận :
- Nó làm giảm sự tắc nghẽn của buồng trứng ovarienne và dịch hoàn testiculaire.
▪ Trong rong kinh ménorragie và trong những trạng thái lãng phí gaspillent như vậy rất thường xuyên :
- sau khi phá thai avortement,
- trong những tháng đầu tiên của mang thai grossesse,
nó không sử dụng phương thuốc nào có hiệu quả lợi ích như Cây Kim mai lá lớn Hamamelis virginiana.
▪ Cây Kim mai lá lớn Hamamelis virginiana không nên bỏ qua trong chữa trị :
- những vú bị viêm seins enflammés
và áp dụng nóng, nó làm giảm :
- đau nhức của những cơ bụng muscles abdominaux,
- và những bộ phận vùng xương chậu pelviennes sau khi sanh đẻ accouchement.
▪ Trong xuất huyết tử cung hémorragie utérine tiếp theo sau khi sanh toàn thời gian, phương thuốc điều trị có thể không bằng à l'ergot ( một loại nấm tên scléritium ….), nhưng trong giống Cây Kim mai lá lớn nêu trên, nó hành động như một yếu tố an toàn hơn.
▪ trong :
- tiêu chảy mãn tính diarrhée chronique,
- và bệnh tã không lây, xảy ra ở trẻ sơ sinh  choléra infantile,
đây là một thuốc có giá trị .
▪ Cây Kim mai lá lớn Hamamelis virginiana được phổ biến một cách đứng đắn như một phương thuốc chống lại :
- bong gân entorses,
- đụng dập contusions,
- những vết thương blessures,
- sưng gonflements,  …v…v….
▪ Một dung dịch với vài hạt vô trùng trong nước cất Cây Kim mai lá lớn Hamamelis virginiana hình thành một băng gạc tốt và hiệu quả cho :
- phỏng cháy brûlures,
- phỏng nước sôi échaudures,
- những vết cắt coupures,
- vết trầy abrasions,
- những ngón tay  nghiền nát doigts écrasés, ..v…v…
▪ Những hạt menthol với 4 onces dung dịch lỏng nước cất của Cây Kim mai lá lớn Hamamelis virginiana cũng có hiệu quả trong :
- phỏng cháy brûlures,
- và những phỏng nước sôi échaudures (Ellingwood).
Glycérine và Cây Kim mai lá lớn Hamamelis virginiana, những phần bằng nhau, mang lại cho chúng ta một dịch vụ rất tốt trong :
- những điều kiện kích ứng conditions irritées,
- và viêm inflammatoires của lớp thịt thính giác méat auditif bên ngoài,
đặc biệt của sự kích ứng irritation từ sự xuất hiện của cứt ráy tai cerumen kích thích.
▪ Cây Kim mai lá lớn Hamamelis virginiana, dùng cho cả hai bên trong cơ thể và dùng bên ngoài tại nơi ảnh hưởng, ngừng chảy máu từ những bề mặt màng nhầy muqueuses.
Hành động này được thể hiện tốt bởi :
- một tiểu ra máu hématurie không viêm non inflammatoire.
Đây không phải là một phương thuốc xuất huyết tích cực hémorragie active, nhưng cho những chảy máu tiêu cực saignements passifs, như :
- những phổi poumons,
- dạ dày estomac,
- những ruột intestins,
- những cơ quan thận organes rénaux,
- cơ quan sinh dục génitaux,
hành động của nó là thỏa đáng.
▪ Ngoài sự kiểm soát trên tiểu ra máu thực sự hématurie réelle, Cây Kim mai lá lớn Hamamelis virginiana thường là lợi ích trong :
- những bệnh thận affections rénales,
chủ yếu là do sự thư giãn mạch máu relaxation vasculaire.
Do đó trong :
- bệnh tiểu đường nhạt diabète insipide,
điều này đã có một số nhất định giá trị, nhưng nó là dịch vụ lớn hơn trong :
- những dòng chảy chất nhầy profluves muqueuses của đường niếu sinh dục tractus urino-génital.
▪ Nó là lợi ích cho :
- viêm nước bàng quang catarrhe vésical,
- tiểu mót ténesme,
- và kích ứng bàng quang irritation de la vessie,
 do những tĩnh mạch bìu tinh hoàn  veines scrotales mở rộng élargies và thư giản détendues.
▪ Nó nên được sử dụng cả bên trong lẫn bên ngoài tại chỗ cho đến bỉu dái dương vật scrotum. Mặc dù, nó làm giảm giãn tĩnh mạch của dây tinh trùng (cordon spermatique) varicocele, nó không phải chờ đợi quá lâu để chữa lành bệnh.
▪ Đau nhức bắp cơ douleur musculaire và những cảm giác đau đớn sensations douloureuses,
- như bị thâm tím meurtre,
- cảm lạnh rhume,
- những tiếp xúc expositions,
- những căng thẳng biến dạng souches,
- những vết bầm dập ecchymoses
- hoặc những hành động bắp cơ nghiêm trọng action musculaire sévère,
làm giảm mạnh bởi áp dụng nước cất Cây Kim mai lá lớn Hamamelis virginiana, nóng hoặc lạnh, với phương tiện của một băng gạc compresses, trong khi mà những Cây Kim mai lá lớn Hamamelis virginiana cụ thể có thể được cho vào bên trong cơ thể.
▪ Nó hình thành một lau rửa mặt tốt cho :
- phỏng cháy da brûler la peau,
- sậm màu da bronzage,
- những vết tành nhang taches de rousseur,
- cho những mao mạch trên mặt giãn nở ra capillaires faciaux dilatés,
- và là một áp dụng tốt sau khi cạo râu rasage.
● Phân lượng :
▪ Dung dịch lỏng Cây Kim mai lá lớn Hamamelis virginiana,
- từ 1/2 đến 3 drachmes ( 1 drachme = 4,36 gr ) ( một nước cất của lá tươi ).
▪ Cũng được sử dụng với những phần tương đương của glycérine như :
- tiêm cho những trĩ bị viêm piles.
▪ Trích xuất lỏng từ 5 đến 15 giọt minimes ( chế phẩm của lá khô thực hiện với alcool ) dùng bên ngoài cơ thể cho :
- những giãn tĩnh mạch varices.
- tiêm injection dùng cho trĩ bị viêm piles, từ 2 đến 5 giọt minimes.
Hamamelin, từ 1/2 đến 2 hạt,
trong dạng viên nang pilule ( trích xuất bột của vỏ ).
- từ 1 đến 3 hạt với beurre de cacao là lợi ích cho những trĩ bị viêm piles.
▪ Dung dịch trong cồn teinture ( của vỏ ), từ 30 đến 60 giọt minimes. 1 drachm trong 3 OZ.
▪ Trong nước lạnh, được dùng để rửa cho bệnh trĩ viêm piles.
▪ Dung dịch dưởng da Lotion, từ 1 hoặc 2 drachmes ( 1 drachmes = 4,36 gr ) với nước.
- 1 once = 28,35 gr lợi ích cho những vết bầm tím ecchymoses.
▪ Thuốc mỡ onguent : dùng bên ngoài cho trĩ bị viêm piles.
● Những sử dụng khác :
▪ Được sử dụng như một gốc ghép porte-greffe cho những loài Cây cảnh trong giống này.
▪ Cây rất giàu chất tanin.  
▪ Nó được sử dụng trong mỹ phẩm cosmétiquement như thành phần gần như trong tất cả những chế phẩm để làm giảm :
- những suy yếu của những mao mạch faiblesses capillaires.
▪ Gỗ, nặng, cứng, rất chặt chẽ.
▪ Những Cây quá nhỏ để trở thành những loại gỗ hữu ích.
Thực phẩm và biến chế :
Hạt giống, dùng sống hoặc nấu chín.
▪ Một kết cấu của một dầu texture huileuse.
▪ Những hạt kích thước khoảng như những hạt của lúa mạch orge và có một lớp áo bên ngoài dầy.
▪ Những báo cáo là ăn được comestibilité phải được xử lý với một sự nghi ngờ soupçon, hình như tất cả những kết quả của những báo cáo đáng nghi ngờ trong « Hệ thực vật Y học Flore médicale» của Refinesque.
▪ Một trà tươi mát được chế tạo từ những và những cành .

Nguyễn thanh Vân

lundi 19 juin 2017

Phong quỳ rừng - Wood Anemone

Wood Anemone
Phong quỳ rừng
Anemone nemorosa - L.
Ranunculaceae
Đại cương :
▪ Tên tiếng Anh, dẫn từ ý nghĩa tiếng Hy lạp grecque ( gió, phong vent) và do trên thực tế của những loải mọc trên những nơi cao tiếp xúc với gió mạnh.
Những tác giả khác đặt tên với sự run rẩy của hoa trước những cơn gió mạnh của mùa xuân.
Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa là một thực vật có hoa ở đầu mùa xuân trong họ Ranunculaceae, có nguồn gốc ở Châu Âu.
Những tên thông thường bao gồm :
- anémone du bois,
- windflower,
- thimbleweed,
- và mùi hôi của loài chồn odeur du renard, mùi hôi nói đây ám chỉ mùi của lá.
Theo Giáo sư Phạm Hoàng Hộ trong Cây Cỏ Việt Nam, tên Anemone được gọi là Phong quỳ Wood anemone, gọi là Cây Phong quỳ rừng.
Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa là một thực vật sống trong những khu rừng rụng lá Châu Âu, mà những thảm thực vật Phong quỳ vào mùa xuân trổ hoa rất đẹp.
Nó phải có thời gian để cài đặt tăng trưởng, thậm chí ở những môi trường tự nhiên của nó, đó là lý do mà Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa được xem bởi những nhà sinh học biologiste như một loài thực vật điềm chỉ của những khu rừng trưởng thành, khá xưa.
Những hoa của nó cũng rõ ràng thể hiện ở bên trên đám , có một nét duyên dáng của sự đơn giản.
Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa có một vị trí trong những khu vườn, như một loài thực vật bao phủ trên đất của những vùng bóng râm bởi những tàn lá, nơi đây nó phát triển chậm, nhưng không để cho một loài thực vật hoang dại nào chen vào trong những căn hành dầy đặc.
Vì vậy, một khi cài đặt, dưới chân của những hàng rào, chẳng hạn, không có một cỏ dại nào để quản lý.
Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa được phổ biến rộng rãi trong Anh Quốc, Ireland, cũng được tìm thấy ở phần lớn lục đia Châu Âu , ngoại trừ những vùng khô cằn phía nam Địa Trung Hải .
Loài này cũng đã được giới thiệu đến nhiều vùng khác trên thế giới, bao gồm Bắc Mỹ.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Là một thực vật thân thảo duyên dáng cao khoảng 11 cm cao, thẳng đứng, không phân nhánh, 3 lá bắc mọc chụm vòng chung quanh thân, trổ hoa vào đầu mùa xuân và được tìm thấy trong những khu rừng mở. Thân được sản xuất từ đỉnh của những căn hành rhizome, rất đơn giản, mọc dựng thẳng lên không lá, trừ ở bên trên.
Căn hành Cây Phong quỳ rừng, nạt thịt và giòn, nó phát triển chậm vài cm mỗi năm. Nó chạy nằm ngay dưới mặt đất.  Rễ mọc ngang, mỏng.
kép hình chân vịt, gồm 3 lá mọc thành vòng chụm lại một mực chung quanh thân, 3 lá phụ, có thùy xẻ sâu.
Hoa, cô độc, từ 3 đến 5 cm đường kính, màu trắng, hoặc hồng , tím, trên một cuống ngắn, cây bắt đầu trổ hoa một thời gian sau khi những nổi lên từ mặt đất. Thân cuống hoa mọc từ giữa 3 lá phụ chụm lại, gồm có :
- Hoa thật sự không có cánh hoa, tất cả đều giống như những đài hoa nên được gọi là tépales, có từ 6 đến 7 tépales, ít khi lên đến 9, đài hoa và cánh hoa giống nhau, hình bầu dục trắng bên trong và màu hồng bên ngoài. Hoa mở ra theo hướng ánh sáng mặt trời và  khép lại vào ban đêm hay trong trường hợp mưa để tránh bị hủy bởi nước nó rủ cúi đầu xuống một cách duyên dáng. Tất cả những hoa đều được định hướng theo cùng một cách, một tấm thảm cỏ Cây Phong quỳ với những lá hình chân vịt đặc biệt rất hài hòa.
- nhiều tiểu nhụy ở trung tâm.
Trong thiên nhiên, những hoa thường màu trắng, nhưng có thể màu hồng , màu hoa cà hoặc màu xanh và thường có một màu sậm ở phía lưng những tépales.
Hoa thụ phấn bởi côn trùng ( trùng môi )
Trái, là bế quả achène, là một đầu thuôn dài với một chùm lông tơ trắng rậm.
Bộ phận sử dụng :
Cây, rễ.
▪ Thảo dược được thu hoạch vào mùa xuân trước khi Cây đi vào thời kỳ trổ hoa.
Thành phần hóa học và dược chất :
▪ Thành phần anémonine (C10H8O4) Beckurts, 1892) xuất hiện không chỉ có trong Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa, nhưng cũng ở Anemone Pulsatilla, L., Anemone pratensis, L., Ranunculus reptans, L., Ranunculus acer, L. và Ranunculus Sceteratus, L., và những lá của Cây Clematis angustifolia và Clematis integrifolia.
Nó thu được bằng cách chưng cất những thảo dược với nước, hoặc :
- để sản phẩm qua một bên để kết tinh thành tinh thể,
- hoặc lắc những chưng cất với chloroforme.
Từ dung dịch này, anémonine trước hết :
- kết tinh thành tinh thể,
- kế đó một chất gọi là anémone camphre,
là một hợp chất rất không ổn định, có một mùi hôi mạnh, kích ứng niêm mạc của mũi irritant les muqueuses du nez, ..v..v...
Nó dễ dàng phân chia thành :
- anémonine,
- và acide isanémonique vô định hình.
Thành phần anémonine dạng hình kim trắng có phị điểm từ 150 đến 152 ° C (302 à 305,6 ° F). Không mùi không vị và có phản ứng trung hòa nhưng có một vị nóng cháy khi tan chảy. Nó bay hơi với hơi nước đun sôi, và nó rất kích ứng với những điều kiện này.
Nó tan nhẹ trong nước lạnh và alcool, dễ dàng nhất trong chloroforme và trong dầu cố định, nhưng không tan trong éther.
▪ Alkalies kết hợp dễ dàng với acide anémique (C10H10O5) cũng xảy ra trong Cây với acide anémoninique (C10H12O6).
▪ Những thành phần như :
- glycose,
- tanin,
- 2 chất résines,
- pectine,
- những muối Calcium sels de calcium,
- và magnésium,
- những sulfates,
- và những thành phần thông thường của Cây cũng đã tìm được bởi Miller.
▪ Chất lòng trắng trứng albumine đã vắng mặt (voir le Prof. J. U. Lloyd, Médicaments et médicaments de l'Amérique du Nord, Vol. I, 29).
▪ Mr. A. W. Miller (1862), đã chứng minh được sự tồn tại của một nguyên chất acide dễ bay hơi trong thực vật này, và bằng cách khuấy dung dịch nước cất với chloroforme, Ông thu đuợc một nguyên chất trắng chát, Ông tin là chất anémonine, mặc dù số lượng rất thấp để xác minh.
▪ Anh trai của Ông F. B. Miller, tái khảo sát Cây vào năm 1873 và bởi cùng quá trình đó, thu được một tinh thể trắng và tinh thể có lông, lúc đầu cho một phản ứng trung tính neutre, nhưng trở nên cả hai acide và có màu sắc trong vài ngày.
▪ Một chưng cất của nước ép jus tươi bảo quản trong alcool cũng đã được chưng cất bởi Ông ta và được xử lý với chloroforme, từ đó những tinh thể màu nâu acide thu được.
▪ Một số lượng thảo dược khô, sau đó được chưng cất và tiếp theo sau được sử lý với chloroforme, như bên trên, không thu được một nguyên chất chát nào với thảo dược tươi.
Do đó, dường như được kết luận rằng, chất anémonine bị tiêu tan trong quá trình sấy khô, điều này dường như cũng xuất hiện từ trên thực tế rằng là những thảo dược khô không có đặc thính kích ứng của những Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa tươi và khi nhai những thảo dược 1 năm tuổi chỉ có những cảm giác ngứa ran nhẹ.
Đặc tính trị liệu :
Những Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa là thuốc :
- chống  bệnh thấp khớp antirhumatismales,
- làm nổi đỏ da rubefacient,
- và thuốc bổ tonique.
Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa đôi khi được sử dụng bên ngoài cơ thể như :
- chống kích ứng contre-irritant
trong chữa trị :
- bệnh thấp khớp rhumatisme.
▪ Bộ phận khác của thảo dược Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa đã được để nghị cho những đau bệnh khác, như là :
- đau đầu maux de tête,
- và bệnh thống phong goutte,
mặc dù Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa hầu như không được thực hành sử dụng ở ngày nay.
▪ Một phương thuốc vi lượng đồng căn homéopathique được chế tạo từ những .
▪ Tất cả những bộ phận của Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa chứa :
- chất protoanémonine,
có thể là nguyên nhân của một kích ứng nghiêm trọng của :
- da peau,
- và dạ dày-ruột gastro-intestinaux,
- một hương vị đắng goût amer,
- và những phỏng cháy brûlures trong miệng bouche và cổ họng gorge,
- những loét miệng ulcères de la bouche,
- buồn nôn nausées,
- những ói mữa vomissements,
- tiêu chảy diarrhées,
- và ói ra máu hématémèse. ( bệnh có nguồn gốc từ bắp cơ trên của thập nhị chỉ tràng duodénum, thường dễ nhầm lẫn với ho ra máu hémoptysie…).
▪ Mặc dù loài Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa này trong thực hành đã thất bại đã không còn sử dụng nữa, những nhà dược thảo herboristes đề nghị áp dụng những bộ phận khác nhau của Cây cho :
- những đau đầu maux de tête,
- bệnh sốt rét fièvre tierce (biểu thị một dạng của bệnh sốt rét gây ra sốt phát sinh mỗi ngày thứ hai ),
- và bệnh thống phong thấp khớp goutte rhumatismale.
Do đó, rễ Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa, được nhai trong miệng, sản xuất :
- nhiều đàm crachats,
và đem đi nhiều :
- ẩm ướt mà nó tạo ra ,
- và khí sắc lãnh đạm flegmatiques,
và do đó tuyệt dịu cho :
- trạng thái hôn mê léthargie ....
▪ Việc biến thành một thuốc mỡ pommade và những lông mi mắt paupières đã bị khó chịu, nó giúp cho :
- viêm mắt inflammation des yeux.
▪ Thâm chí thuốc mỡ pommade là tuyệt dịu để làm sạch :
- những loét ác tính ulcères malins,
- và ăn mòn corrodants ».
Parkinson écrit:
« Ngày nay, người ta ít dùng những Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa trong cơ thể, hoặc là cho những bệnh dùng bên ngoài cơ thể, hoặc là vào bên trong cơ thể.
▪ Chỉ những Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa là được sử dụng trong thuốc mỡ pommade, gọi là Marciatum, gồm nhiều thảo dược nóng khác nhau….
Rễ Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa do tính rõ nét là khả năng làm giảm :
- bệnh thấp khớp rhumatisme
nếu nó được nếm trải hoặc nhai trong miệng.
Tuy nhiên, những nhà thẩm quyền gần đây ngần ngại đề nghị nhai những rễ Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa, do bởi chất độc chát poison acre và kích ứng irritant mà được biết nó hiện có trong rễ.
▪ Một nhà tự nhiên Anh Quốc trong nước này cũng có nhận xét như thế.
▪ Một nhà tự nhiên khác đưa ra một báo cáo hàng năm về những ngày nở hoa vào mùa xuân , phát hiện rằng Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa không bao giờ nở hoa trước 16 tháng 3 và trể lắm 22 tháng 4.
Những quan sát của những nhà nghiên cứu tự nhiên này được thực hiện trong mỗi mùa xuân và trong suốt 30 năm.
Kinh nghiệm dân gian :
● Những văn bản xưa ghi lại :
Culpepper (1725) xem rằng một nước nấu sắc décoction của hoa Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa là có giá trị trong :
- những thất bại dự kiến kinh nguyệt, hoặc kinh nguyệt bị trấn áp menstruations supprimées;
và Ông tuyên bố rằng :
- nước ép jus hít inhale vào trong hốc mũi narines,
- những rễ được nhai mâchée,
đã phán đoán là có lợi ích để :
- kích thích những sự bài tiết sécrétions,
và một thuốc mỡ pommade có lợi ích cho :
- viêm mắt inflammation des yeux
- hoặc cho những vết loét ác tính ulcères malins.
Motherby (1775) tuyên bố rằng rễ Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa đỏ hồng là : " chất tẩy sạch, nếu được đập nát khi chúng còn tươi, được áp dụng cho :
- những vết loét không đau ulcères indolents,
và trên da peau, nó  làm cho :
- nước hoặc mũ chảy ra từ những mụn rộp cloques.
Ông tuyên bố rằng Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa được sử dụng như :
- một thuốc kích mũi để thúc đẩy hắc hơi và tăng lượng chất thải errhine,
và như :
- một nước thuốc rửa mắt collyrium.
Meyrick (1790) viết rằng « nước ép jus Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa, nếu được hít vào trong mũi nez hoặc rễ ngậm vào trong miệng bouche, kích thích :
- xả ra đáng kể khí lạnh froides,
- những dịch lỏng nước ngấm tràn ngập vào khoảng không gian giữa giác mạc và thủy tinh thể trong mắt.
và Ông tuyên bố rằng những lá tươi bị đập dập của Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa, được áp dụng trên :
- những loét không gây đau đớn ulcères indolents,
- hoặc những vết thương loét chảy mủ plaies courantes,
hành động như :
- một chất kích thích stimulant,
- làm sạch nettoient,
- và kích động để chữa lành incitent à guérir.
▪▪▪ Người ta cũng được thông báo bởi những người có thẩm quyền rằng « một số nhất định của những tác giả đề nghị trong :
- sự loại bỏ của kinh nguyệt menstruation,
nhưng nó quá chát âcre trong bản chất của nó để cho việc sử dụng bên trong cơ thể và có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng ».
Hooper (1817) tuyên bố rằng những thâm tím và những hoa Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa áp dụng bên ngoài cơ thể, chữa lành :
- viêm nướu tinea capitis.
và Ông cũng có thẩm quyền tuyên bố nghi ngờ theo đó những cư dân của Kamschatka sử dụng rễ của thảo dược này để :
- tẩm độc những mũi tên empoisonner leurs flèches.
Linnaeus đã nói rằng khi mà những gia cầm được nuôi bởi thảo dược này, nó gây ra :
- đi tiểu ra máu urine sanglantes
- và bệnh kiết lỵ dysenterie.
Những điều đã nêu trên là chất của tài liệu văn học Châu Âu trên những đặc tính y học của thảo dược này và những nhà văn Hoa Kỳ, chúng ta đã tìm thấy, đã rút ra từ đó những gì mà chứng ta đã trích dẫn.
Hand (1820) cho chúng ta một bản tổng kê đầy đủ hơn của những bệnh trong đó Thảo dược này đã được ứng dụng trước đây mà người ta tìm thấy trong bất kỳ công việc nào khác của Mỹ.
Ông cho biết thêm rằng Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa tươi sử dụng có thể :
- sản xuất ra những bỏng rộp cloques;
và, trong so sánh với Côn trùng bọ cánh cứng màu xanh lá cây Cantharides ( loài này tiếp xúc được với mụn rộp vésicant và chuyển qua để kích thích tình dục aphrodisiaque ), Ông báo cáo rằng là nó nhanh hơn, ít đau đớn hơn và tất cả lợi ít như nhau.
▪ Ông cũng báo cáo rằng Cây Phong quỳ Virgine Anémone virginiana có những đặc tính tương tự với Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa, nhưng mạnh hơn nhiều.
▪ Người ta trích dẫn những đề tài viết của Ông về Cây Phong quỳ Virgine Anemone virginiana như dưới đây : « Nó  cũng được sử dụng bên trong cơ thể trong chữa trị :
- loại bỏ những xả thải kinh nguyệt évacuation mensuelle ở những phụ nữ, chỉ tùy thuộc vào sự yếu đuối.
- trong những mù lòa obscurités của bộ phận mắt œil gọi là giác mạc cornée
- trong bệnh hoa liễu vénérien
- những đau nhức và những khối u xương tumeurs des os,
- và những loét thối rữa ulcères de la pourriture,
- những tuyến bã nhờn glandes indurées,
- những phun mũ éruptions mãn tính chroniques,
- tình trạng u sầu tư lự mélancolies,
- và bệnh liệt paralysies.
Kalm nói rằng những hạt có lông Cây Phong quỳ Virgine Anemone virginiana làm giảm :
- những đau răng mal de dents,
nếu nó được ngâm vào trong alcool và nhét vào trong khoang răng cavité de la dent.
Porcher (1849) cho chúng ta những thông tin rằng nước ép jus của Cây sẽ loại bỏ :
- những da cứng sừng cors,
- và phồng rộp vésicant,
nhưng nếu áp dụng đúng cách, Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa là một phương thuốc tốt chống lại :
- những bệnh sốt fièvres,
- bệnh thống phong gouttes,
- và thấp khớp rhumatismes.
Scudder (Médicaments spécifiques) tuyên bố rằng, « điều này ảnh hưởng đến chức năng của những chất thải và sửa chữa, nhưng hoạt động trực tiếp trên hệ thống thần kinh système nerveux ».
▪ Những người dân Ai Cập Égyptiens giữ Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa như :
- một biểu tượng của bệnh hoạn emblème de la maladie,
có thể là do màu sắc tuôn ra trên lưng của những đài hoa trắng.
▪ Những người Tàu gọi là « Hoa tử thần Fleur de la Mort ». trong một số nước nhất định Âu Châu, những người nông dân xem như là một loại hoa mang lại điềm xấu, mặc dầu lý do mê tín dị đoan superstition là mơ hồ.
▪ Những người La Mã Romains đã nhổ những Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa đầu tiên như một say mê quyến rủ chống lại :
- bệnh sốt fièvre,
và trong một số vùng xa hẻo lánh, thực hành này vẫn còn tồn tại, nó được coi là một số nhất định phương thuốc để tập hợp câu nói của một Cây Phong quỳ : « Ta tập hợp tất cả những bệnh này » , và để buộc chúng quanh cổ  của những người tàn tật invalide.
Nghiên cứu :
Không biết, cần bổ sung.
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
▪ Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa chứa những thành phần độc hại toxiques, độc hại cho những động vật, bao gồm những con người, nhưng nó cũng được sử dụng như một thuốc. 
● Phản ứng phụ :
Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa là một thực vật sử dụng theo truyền thống Nga.
Những bộ phận phát triển bên trên mặt đất được dùng làm thuốc, để chữa trị cho những người mắc phải :
- đau dạ dày douleurs d’estomac,
- kinh nguyệt trễ retard de règles,
- bệnh thống phong goutte,
- ho gà coqueluche,
- bệnh suyễn asthme.
▪ Không đủ những thông tin để biết làm thế nào để biết chức năng hành động của Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa.
▪ Không có bằng chứng đủ cho những điều kiện nêu trên và những điều kiện khác.
▪ Không có bằng chứng cần thiết để đánh giá hiệu quả của Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa cho những sử dụng này.
Cây Phong quỳ rừng Anemone nemorosa tươi là nguy hiểm để sử dụng bên trong cơ thể.
▪ Nó chứa những thành phần hóa chất có thể làm kích ứng nghiêm trọng cho dạ dày estomac,
và ruột intestins .
▪ thu hoạch ăn tươi có thể gây tử vong fatale.
▪ tiếp xúc với da có thể gây ra :
- những mụn rộp cloche,
- phỏng cháy với chữa lành bệnh chậm brûlures à cicatrisation lente.
▪ không đủ thông tin cho sự an toàn của sản phẩm khô.
● Sự đề phòng đặc biệt và cảnh báo :
- Phụ nữ mang thai và cho con bú.
- không dùng Phong quỳ tươi ở miệng và áp dụng ở da.
Ứng dụng :
Trong tình trạng gần đây, những lá bị thương thâm thím và được áp dụng trên :
- da nổi đỏ peau sont rubefacient.
với một liều lớn,  thực vật này gây ra :
- buồn nôn nausées,
- ói mữa vomissements,
- tình trạng tiêu chảy của ruột diarrhea,
- và đi tiểu ra máu hématurie.
▪ Thực vật này có vị chát âcre và độc hại toxique. Nó được đề nghị trong :
- tình trạng hoại tử amaurose,
- và những bệnh mắt khác maladies de l'œil,
- bệnh giang mai syphilis thứ cấp,
- những bệnh của da maladies cutanées,
- và ho toux,
với liều dùng đề nghị 1 hoặc 2 hạt / ngày.
Ở đây, tuy nhiên, được sử dụng thời cổ xưa.
Trong khi áp dụng tại chổ, nó được cho là có hiệu quả trong :
- bịnh sài đầu của trẻ con tête d'échaudure..

Nguyễn thanh Vân