Tâm sự

Tâm sự

vendredi 21 avril 2017

Từ cô - Cù nèo - Arrow-head

Arrow-head - Flechière
Cây Từ cô – Cù nèo
Sagittaria sagittifolia subsp. leucopetala (Miq.)
Alismataceae
Đại cương :
Danh pháp khoa học đồng nghĩa :
(Sagittaria trifolia L). Sagittaria trifolia var. sinensis (Sims) Makino, Sagittaria trifolia f. subhastata Makino, Sagittaria trifolia f. suitensis Makino, Sagittaria sagittata Thunb.,  Sagittaria sagittifolia var. alismifolia Makino, Sagittaria sagittifolia var. diversifolia M. Michel, Sagittaria sagittifolia var. edulis (Schltdl.) Siebold ex Miq. ......
▪ Một loài nê thực vật ( Thực vật thủy sinh ), thuộc họ Alismataceae, người ta có thể phát hiện trong ao, những hồ, đầm lầy, ruộng lúa và những kinh rạch.
Nó thích sống những nơi nước cạn và dòng nước chảy từ từ, đến 30-60 cm sâu, mặc dù nó phát triển trong những đất ẩm ướt hoặc ướt trong những vị trí nắng trực tiếp.
Nó phát triển tốt nhất trong khí hậu ấm áp và có thể chịu được nhiệt độ khá thấp -10 ° C, mặc dù sự tăng trưởng của những bộ phận trên không bị hủy khi nhiệt độ xuống dưới - 0 ° C.
▪ Cây Từ cô Sagittaria sagittifolia là một Cây thủy sinh được phân phối rộng rãi khắp Châu Âu và miền Bắc Á đến Nhật Bản và về phía nam Java, cũng như trong Bắc Mỹ Amérique du Nord, và phong phú trong nhiều vùng ở Angleterre, nhưng chỉ tịch hóa trong Ecosse.
Những người Tàu và người Nhật Bản  trồng vì lợi ích của những củ tubercules, được tiêu thụ như một thức ăn lành mạnh và người ta nói có thể ăn ở trạng thái thô sống.
▪ Ở Nhật Bản Japon và trong Tàu, những Củ tinh bột tubercules féculents được canh tác trong những ruộng lúa dọc theo những con sông nhỏ.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Nê thực vật, là thực vật sống thủy sinh, có củ to, có ngó, thẳng, không thân và thường sống lâu năm nhờ củ sống trong nước, những củ mang trên những thân sợi dài ( ngó ) stolon, phát triển ngay trên mặt bùn, mọc ở nách những Cây Từ cô Sagittaria trifolia còn gọi Sagittaria sagittifolia.
Những thân củ, phồng lên bên dưới và cho ra những ngó stolon hoặc thân trường bò sản  xuất ra những củ vào mùa đông, hình cầu 2 cm đường kính, bao gồm hoàn toàn chứa tinh bột amidon.
, mọc chụm bên dưới như đóa bông hồng, hầu hết chìm trong nước, thẳng đứng, lá trên không lớn, có phiến hình đầu mũi tên với đầu nhọn hình mũi dáo thẳng và 2 thùy đáy nhọn hình tam giác hoặc thẳng mũi dáo chỉa xuống dưới, từ 10 đến 40 cm dài và 12 cm rộng, rất tươi sáng. Những chiếc lá được mang trên những thân cuống thường dài hơn , vượt ra khỏi mặt nước, hình tam giác chức năng thay đổi tùy theo độ sâu của nước trong đó Cây phát triển. Những chiết lá đầu tiên chìm trong nước.
Phát hoa, chùm tụ tán, hoa cái và hoa đực riêng (đơn phái đồng chu, hoa đực và hoa cái trên cùng một cây ). Từ 3 đến 5 hoa mọc theo vòng xoắn.
Hoa, mỗi hoa từ 1 đến 2 cm đường kính.
- Hoa cái với bầu noãn bên dưới,
- hoa đực với những tiểu nhụy bên trên với những cuống hoa dài hơn. Hoa có những cánh hoa màu trắng giữa trung tâm có màu vàng. Những hoa bên trên xếp thành tầng, những hoa bên dưới thường chứa những bình hạt.
- lá đài, gồm 3 màu xanh bên ngoài.
- cánh hoa, 3 cánh lớn mỏng, trắng tinh, với những đốm màu tím bên dưới, dễ rụng, giữa có màu vàng.
- tiểu nhụy, 20 với những bao phấn màu vàng.
- bầu noãn, rất nhiều tâm bì trên một đế hoa lồi hình cầu.
Trái, bế quả, hình xoan, 1 cm đường kính, dẹp, bìa mỏng với đôi cánh rộng, bên trong chứa 1 hột.
Bộ phận sử dụng :
Củ nạt bulbe, lá và cuống lá .
Thành phần hóa học và dược chất :
Một chất terpénoïdes đã được phân lập của trích xuất MeOH của Cây Từ cô (Sagittaria trifolia L). Sagittaria sagittifolia bởi sắc ký lặp lại Chromatographie répétée trên gel de silice.
Cấu trúc của nó đã được xác định như :
- acide sandaracopimaric
trên cơ sở dữ liệu quang phổ spectrales và vật lý physiques.
Acide sandaracopimarique thể hiện một hành động tốt :
- ức chế tính miễn nhiễm immunosuppression.
▪ Nghiên cứu đã phân lập một chất mới :
- diterpène,
- sagittariol,
đặc trưng bởi thuốc :
- Labda-7,14-dien-13 (S), 17-diol (Sharma và al., 1975).
● Những Củ tròn bulbe của Cây Từ cô Sagittaria sagittifolia, có chứa :
▪ 4 diterpène cétones hoạt động sinh học bioactives :
- trifolions A, B, C và D.
▪ 2 glucosides diterpéniques :
- những sagittariosides a và b.
▪ và 1 glycoside de nitroéthylphénol,
▪ arabinothalictoside đã được phân lập, cũng như 6 diterpènes được biết :
- isoabienol,
- 13-épisclareol,
- oxyde d'ent-13-épimanoïne (6-désoxyandalusol),
- oxyde d'ent -19-hydroxy-13-épimanoïne,
- ent-kaur-16- En-19-ol,
- và acide ent-kaur-16-en-19-oic (Yoshikawa và al., 1993, 1996).
▪ Một acide terpénoïde, acide sandaracopimaric đã được phân lập từ trích xuất méthanol (Yuan và al., 1993).
Từ trích xuất méthanol của Cây Từ cô (Sagittaria trifolia L). Sagittaria sagittifolia :
- ergosterol peroxide C28H44O3,
- icariside D 2,
- thalictoside C14H19NO8,
- và 4-nitrophényl-β-D-glucopyranoside
đã được phân lập (Kim và al., 1998).
▪ On a isolé sept nouveaux diterpénoïdes d'entrosane :
- những sagittines A-G (1-7),
với một labdane diterpène mới :
- 13-epimanoïloxy-19-O-a-L -2 ', 5'-diacétoxyarabinofuranoside (8)
toàn bộ của Cây (Liu và al., 2006).
▪ 10 diterpénoïdes đã được phân lập, bao gồm những hợp chất mới :
- sagittineux H,
- sclareol,
- và 19-β-L -3'-acétoxyarabinofuranosyl-ent-kaur-16-ène-19-oate (Liu và al., 2009).
▪ Tinh bột amidon của Củ tròn bulbe Cây Từ cô Sagittaria sagittifolia L var. Sinensis Makino (tête de flèche) có chứa :
- 31,65% amylose,
- và 0,0897 mg / g phosphore (Chang 1988).
Sagittariol, một diterpène mới đã được phân lập từ Cây Từ cô Sagittaria sagittifolia và đặc trưng hóa bởi thuốc :
- Labda-7,14-dien-13 (S), 17-diol (Sharma và al., 1975).
Sau đó, sagittariol đã được xem như 17-hydroxymanool, bởi vì nó có một sườn của cis-clerodane A-B (Sharma và al., 1984).
▪ 28 hợp chất đã được xác định trong dầu thiết yếu của Cây Từ cô Sagittaria sagittifolia.
Những hợp chất chánh đã được tìm thấy :
- hexahydrofanesyl acétone (62,3%),
- tétraméthylhexadécétone (5,8%),
- myristaldéhyde (4,7%),
- n-pentadécane (2,9%),
- và 2-hexyldécanol (2,9%) (Zheng và al., 2006).
▪ Những hợp chất khác với số lượng nhỏ là :
- n-pentylfurane 0,3%,
- n-dimidéhyde 0,4%,
- n-tétracane 0,4%,
- isocaryophyllène 0,9%,
- longifolène 1,2%,
- caryophyllène 0,8%,
- transgeranylacétone 0,7%,
- méthyl pentadécane (2,1%),
- β- Caryophyllène 0,6%,
- diméthylundécénol 1,4%,
- n-cétane 1,1%,
- caryophyllène 0,9%,
- tridecylaldéhyde 0,6%,
- n-heptadécane 1,3%,
- tétraméthylpentadécane 0,6%,
- acide myristique 2,1%,
- n -octadécane 0,6%,
- tétraméthylpentadécanol 0,8%,
- 2 -hexyl-1-décanol 1,2%,
- n-nonadécane,
- và  phénanthriol 0,8%.
● Dinh dưởng nutritives / Đặc tính thuốc médicales :
▪ Giá trị thực phẩm gần đúng của Củ tròn bulbe thô bởi phần ăn được của 100 g đã được ghi nhận như :
- năng lượng énergie 107 calories,
- ẩm độ humidité 70,6%,
- chất đạm protéine 5 g,
- chất béo matière grasse 0,3 g,
- tổng số đường glucide 22,4 g,
- chất xơ fibre 0,9 g,
- tro cendres 1,7 g,
- Calcium Ca 13 mg,
- Phosphore P 165 mg,
- Sắt Fe 2,6 mg,
- Potassium K 729 mg,
- thiamine 0,16 mg,
- riboflavin 0,04 mg,
- niacine 1,4 mg,
- và acide ascorbique 5 mg (Leung và al., 1972).
Rễ sấy khô chứa ( bởi 100g)
- năng lượng 364 calories,
- chất đạm protéines 17g,
- chất béo graisse 1g,
- đường glucides 76,2g,
- chất xơ thực phẩm 3,1g,
- tro 5.8g,
Nguyên tố khoáng :
- calcium Ca 44mg,
- phosphore P 561mg,
- sắt Fe 8,8mg,
- potassium K 2,480mg,
- thiamine 0.54mg,
- riboflavine 0,14 mg,
- niacine 4,76 mg,
- và acide ascorbique 17 mg.
Nó không chứa carotène.
▪ Tinh bột amidon của Củ tròn bulbe chứa một mức độ cao :
- amylose (25,6%),
- và 53 ppm của phosphore hữu cơ.
và thể hiện một biểu đồ nhiểu xạ diffraction của những tia phóng xạ  Ca rayons X (Suzuki và al., 1993).
▪ Đường fructose và đường glucose cũng được gia tăng, kế đó giảm.
Tổng số lượng của :
- tinh bột amidon,
- amylose,
- và amylopectine
đã gia tăng và thay đổi tỹ lệ của amylopectine / amylose là luôn luôn dưới 1.
- D-raffinose, D-stachyose, D-verbascose, D-fructose, D-galactose và glucose,
- asparagine và vitamin B, đã được báo cáo bởi Li ( 2008 ).
Đặc tính trị liệu :
▪ Nhóm của những thực vật thủy sinh của họ Alismataceae thông thhường có chứa những nước ép chua acides jus acidulés, do đó mà, một số loài nhất định, ngoại trừ loài Thủy đề hay Mả đề nước plantain d'eau, đã được sử dụng như :
- lợi tiểu diurétiques,
- và chống bệnh hoại huyết antiscorbutiques.
▪ Cây Từ cô Sagittaria sagittifolia là thuốc :
- chống bệnh hoại huyết antiscorbutique,
- nhuận trường laxative,
- thuốc bổ tonique,
- và lợi tiểu diurétique.
Căn hành rhizome của Cây Từ cô Sagittaria sagittifolia, Arrowhead, Wapatoo và Sagittaria Chinensis, được sử dụng tương ứng bởi những dân tộc bản địa Bắc Mỹ Amérique du Nord và những người tàu như :
- thực phẩm có bột aliments féculents,
cũng như một số loài khác .
▪ Những Cây Từ cô Sagittaria sagittifolia được sử dụng để chữa trị :
- những vấn đề khác nhau của da problèmes de peau.
Củ nạt bulbe Cây Từ cô Sagittaria sagittifolia được sử dụng để :
- giảm những chất thải của âm đạo ( chứa máu, chất nhày, mô tử cung …) sau khi sanh lochia déficients,
- và giữ lại nhau thai rétention du placenta,
cũng như trong :
- những kết thạch ( sạn ) gravier.
Củ nạt bulbe Cây Từ cô Sagittaria sagittifolia được sử dụng cho :
- những bệnh của da maladies de la peau.
Kinh nghiệm dân gian :
▪ Những lá thâm tím của Cây Từ cô Sagittaria sagittifolia được áp dụng vào :
- những vết thương loét plaies hôi thối,
- vết rắn serpents,
- và vết chích côn trùng piqûres d'insectes.
Cây Từ cô Sagittaria sagittifolia dưới dạng bột, được áp dụng để làm giảm :
- những ngứa démangeaisons.
▪ Trong Đông Dương Indochine, căn hành rhizome Cây Từ cô Sagittaria sagittifolia được cạo trong giấm và được áp dụng như một thuốc dán đắp cataplasme cho :
- những nhọt đầu đinh furoncles,
- và nhọt ung mũ abcès.
▪ Nước nấu sắc décoction của căn hành rhizome Cây Từ cô Sagittaria sagittifolia được sử dụng cho :
- những vết cắn của chó chien và rắn serpent.
▪ Những Cây Từ cô Sagittaria sagittifolia nghiền thành bột nhuyễn purées trong mật mía mélasse được sử dụng cho :
- đau nhức cổ họng douleur de la gorge,
- và lưỡi langue
và trong :
- viêm vú inflammation du sein.
▪ Trong miền Đông Bắc Ấn Độ Inde, bột nhão pâte của rễ tươi Cây Từ cô Sagittaria sagittifolia với 1 muỗng mật ong miel, được sử dụng cho :
- bệnh ho toux.
▪ Những Cây Từ cô Sagittaria sagittifolia được sử dụng để chữa trị một loạt :
- những vấn đề của da problèmes de peau (Duke và Ayensu, 1985).
Củ nạt tubercule Cây Từ cô Sagittaria sagittifolia được xem như :
- là gây ra biến mất  một cái gì đó ( thảo luận ) discutient,
- và lợi sữa galactagogue
và có thể gây ra :
- một sanh non, thiếu tháng naissance prématurée.
Dầu thiết yếu của Cây Từ cô Sagittaria sagittifolia được sử dụng thuốc trong thời gian :
- sanh đẻ accouchement
- và cho những bệnh của da maladies de la peau
trong y học truyền thống tàu (Zheng và al., 2006).
▪ Ở Vietnam, Cây Từ cô Sagittaria sagittifolia dùng để chữa trị :
- những chóng mặt vertiges
hoặc áp dụng trên :
- những mụn nhọt boutons (Tanaka và Nguyen 2007).
▪ Những sử dụng khác :
Những bộ phận trên không của Cây Từ cô Sagittaria sagittifolia dùng làm thức ăn cho gia cầm trong một số vùng của Ấn Độ Inde và Đông Nam Á Asie du Sud-Est và cũng dùng thức ăn cho những con heo.
Nghiên cứu :
● Bảo vệ gan Hépatoprotecteur :
▪ Nghiên cứu ở những chuột Sprague-Dawley cho thấy rằng một tiền chữa trị với trích xuất Cây Từ cô (Sagittaria trifolia L).Sagittaria sagittifolia có thể chứng minh gây ra mắc bệnh gan hépatique bởi cadmium bằng cách giảm sự biểu hiện của ARNm của TNF-a trong quá trình tiếp xúc cấp tính với cadmium.
▪ Nghiên cứu cho thấy rằng tiền xử lý với Cây Từ cô Sagittaria sagittifolia là hiệu quả hơn vitamine E trong sự bảo vệ chống lại tổn thương gan cấp tính gây ra bởi cadmium, cuối cùng nhờ sự cải thiện của những quá trình chống oxy hóa antioxydants và giải độc gan détoxication du foie.
● Kháng khuẩn Antibactériens / Diterpénoïdes :
Nghiên cứu toàn bộ của Cây Từ cô (Sagittaria trifolia L). Sagittaria sagittifolia mang lại 7 chất diterpénoïdes ent-rosane mới, của những :
- sagittines A-G
với một chất labdane diterpène mới.
Những hợp chất từ 1 đến 4 cho thấy một hoạt động kháng khuẩn antibactérienne chống lại những tác nhân gây bệnh pathogènes ở miệng :
- Streptococcus mutans,
- và Actinomyces naeslundiis.
● Hoạt động lợi tiểu diurétique :
Trích xuất alcoolique của Cây Từ cô (Sagittaria trifolia L). Sagittaria sagittifolia cho thấy một hoạt động lợi tiểu diurétique (Sharma và al., 1975).
● Hoạt động điều hòa miễn nhiễm immunomodulatrice :
Một acide terpénoïde, sandaracopimaric được phân lập từ Cây Từ cô (Sagittaria trifolia L). Sagittaria sagittifolia đã thể hiện một hoạt động tốt ức chế tính miễn nhiễm immunosuppresseur (Yaun và al., 1993).
Nhiều diterpènes trifoliones A, B, C và D thể hiện những hiệu quả ức chế trên sự phóng thích những histamine từ phì đại tế bào mastocytes của chuột rat gây ra bởi hợp chất 48/80 hoặc calcium ionophore A-23187 là một chất hòa tan có thể mang theo ion Ca  (Yoshikawa và al., 1993, 1996).
● Hoạt động kháng siêu vi khuẩn antimicrobienne :
Hoạt động kháng khuẩn antimicrobienne của dầu thiết yếu đã được đánh giá chống lại 7 chủng vi sinh vật microorganismes.
Những nghiên cứu cho thấy rằng dầu của Cây Từ cô (Sagittaria trifolia L). Sagittaria sagittifolia có một hiệu quả kháng khuẩn antimicrobien đáng kể trên nhiều chủng vi sinh vật microorganismes (Zheng và al., 2006).
Hoạt động kháng khuẩn antimicrobienne này có thể giải thích một phần tại sao dầu được sử dụng thuốc trong thời gian :
- sanh đẻ accouchement,
- và cho những bệnh của da maladies de la peau trong y học truyền thống tàu.
Một nghiên cứu khác cho thấy rằng 4 diterpénoïdes ent-rosane, những sagittines A-D, đã được phân lập từ toàn bộ của Cây Từ cô (Sagittaria trifolia L). Sagittaria sagittifolia, thể hiện một hoạt động kháng khuẩn antibactérienne chống lại những yếu tố gây bệnh pathogènes miệng :
- Streptococcus mutans,
- và Actinomyces naeslundiis,
với những giá trị của MIC giữa 62,5 và 125 μg / mL (Liu và al. 2006).
▪ Thành phần Sagittine E có hoạt động chống chỉ Actinomyces naeslundiis, với một giá trị MIC 62,5 μg / mL.
▪ Sagittine H, một glycoside ent-rosane mới, đã chứng minh một hoạt động kháng khuẩn antibactérienne chống lại Streptococcus mutans và Actinomyces naeslundiis với MIC 62,5 μg / mL (Liu et al., 2009).
▪ Diterpénoïde khác, 19-β-L -3'-acétoxyarabinofuranosylent-kaur-16-ène-19-oate, cho thấy một hoạt động mạnh chống lại Streptococcus mutans và Actinomyces naeslundiis với MIC 15,6 μg / mL.
● Hoạt động ức chế phân hóa tố protéinase inhibitrice de la protéinase :
Người ta đã ghi nhận rằng Cây Từ cô (Sagittaria trifolia L). Sagittaria sagittifolia chứa những chất đầu đôi double tête và đa chức năng của chất ức chế protéinase APIA và APIB bao gồm 179 dư lượng của acides aminés với 3 cầu nối liaisons của disulfite (Yangvà al., 1992; Xu và al., 1993; Luo và al., 1997).
Những nghiên cứu trước đây của Chi và al. (1985) phát hiện rằng APIB đã bao gồm của 141 dư lượng của acides aminés; 20 cặp dư lượng của acides aminés đã được lập lại trong phân tử molécule của chất ức chế inhibiteur này.
Ba (3) trong những cặp này thậm chí đã xảy ra 3 lần, điều này cho thấy rằng chất ức chế này của Cây Từ cô (Sagittaria trifolia L). Sagittaria sagittifolia có thể thuộc một gia đình mới.
Chất ức chế APIA đã ức chế một số lượng đồng phân tử équimolaire của trypsine và chymotrypsine cùng lúc và đã ức chế yếu kallikréine, trong khi chất ức chế APIB ức chế cùng lúc 2 phân tử molécules của trypsine và ức chế mạnh hơn kallikreine chất ức chế APIA (Yang và al., 1992).
Cả 2 chất ức chế bao gồm trong 150 dư lượng acides aminés với 3 cầu nối liaisons disulfite (Cys 43-Cys 89, Cys 110-Cys 119 và Cys 112-Cys 115) và chia sẻ 90%, trình tự nhận dạng, với 13 dư lượng khác nhau.
Cả 2 chất ức chế đã được tìm thấy có cùng trình tự ADNc và những cấu trúc di truyền gen  génomiques.
Mặc dù chúng chia sẻ 91% tính tương đồng homologie, chúng khác nhau trong những hoạt động ức chế inhibitrices (Xie và al., 1997).
Lys-44 và Arg-76 được tìm thấy là nơi phản ứng site réactif của APIB và Ser-82 và Leu-87 cho APIA.
Nghiên cứu của Li và al. (2002b) xác nhận rằng Arg-76 và Arg-87 nhưng không phải là Lys-44 đã được xác định cuối cùng là những nơi phản ứng sites réactifs APIB và Leu-87 trong APIA.
Những nghiên cứu về sau của Li và al. (2002a) phát hiện ra rằng đặc trưng ức chế của phân hóa tố protéase Cây Từ cô Sagittaria sagittifolia chất ức chế A và B (APIA và APIB) đã được điều biến bởi sự hình thành chung quanh của những dư lượng résidus của tryptophane.
Jiang và al. (2008) đã ghi nhận rằng chất ức chế của phân hóa tố protéase A (API-A), một thành viên của gia đình của những chất ức chế phân hóa tố sérine-protéase, có thể ức chế cùng lúc 2 phân tử molécules của trypsine.
Nghiên cứu khác mang đến bởi Bao và al. (2009) phát hiện ra rằng cấu trúc bậc 3 structure ternaire cho thấy rằng những 2 trypsines nối liền trên những cạnh đối diện của API-A và cách nhau là 34 A.
Cả 2 dư lượng P1 được chỉ định không phân minh dưới tên Leu (87) và Lys (145), và danh tánh của chúng đã được xác định bởi một sự đột biến nơi chỉ dẫn mutagenèse site dirigée.
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
● Phản ứng phụ :
▪ Nuốt những Củ nạt thô tubercules Cây Từ cô Sagittaria sagittifolia có thể gây ra :
- tiêu chảy diarrhée,
- suy nhược faiblesse,
- và những bệnh trĩ hémorroïdes.
▪ Những phụ nữ mang thai không nên ăn.
 Ứng dụng :
▪ Nhiều loài của giống Từ cô Sagittaria, bản địa của Brésil, là chất làm se astringentes và nước ép jus được sử dụng để chế tạo mực.
Thực phẩm và biến chế :
▪ Những Củ nạt tubercules Cây Từ cô (Sagittaria trifolia L). Sagittaria sagittifolia ăn được.
▪ Những Củ bulbe được ăn một mình sau khi được nấu chín hoặc nướng hoặc rang. Tuyệt hảo khi được rang, hương vị hơi giống như khoai tây pommes de terre.
▪ Những Củ bột tubercules Cây Từ cô (Sagittaria trifolia L). Sagittaria sagittifolia là tinh bột có hương vị khác biệt.
▪ Nững Củ nạt tubercules Cây Từ cô (Sagittaria trifolia L). Sagittaria sagittifolia không được tiêu dùng thô sống.
▪ Da khá đắng và tốt nhất nên lột bỏ sau khi nấu chín những Củ nạt tubercules Cây Từ cô Sagittaria sagittifolia.
▪ Những Củ nạt tubercules Cây Từ cô Sagittaria sagittifolia cũng có thể cắt nhỏ, phơi khô và nghiền nhuyễn thành bột, bột này có thể sử dụng nấu nhừ như cháo gruau, …v…v..hoặc thêm vào bột ngủ cốc và sử dụng để chế tạo bánh mì.
▪ Trong miền Đông Bắc Ấn Độ , những rễ được nấu chín bằng hấp hơi nước với đường.
▪ Những rễ Cây Từ cô Sagittaria sagittifolia ( thật sự là Củ tubercules ) được sinh ra trên đầu rễ mãnh, thường ở 30 cm sâu trong đất và có một khoảng cách nhất định của Cây mẹ.
▪ Những Củ nạt tubercules Cây Từ cô Sagittaria sagittifolia của những Cây hoang dại có một đường kính khoảng 15 cm và thu hoạch tốt nhất vào cuối mùa hè khhi lá rơi rụng.
thân non Cây Từ cô (Sagittaria trifolia L). Sagittaria sagittifolia – dùng nấu chín. Có vị hơi chát.
▪ Những cuống lá và những Củ tinh bột được nâu chín và ăn ở Manipur và trong Đông Nam Á.
▪ Những lá non, cuống lá non, được dùng làm như rau sống tổng hợp, gọi là rau ghém ăn với mắm dà rau ( mắm kho ).
Hoặc sử dụng cho những món canh và có thể làm một đồ chua, bằng cách trộn chút muối, giấm, đường, đầu hành lá ( làm sổi ). ăn nhâm nhâm rất ngon.

Nguyễn thanh Vân

jeudi 20 avril 2017

Hoa Tử đằng - Chinese wisteria

Chinese wisteria
Hoa Tử đằng
Wisteria sinensis- (Sims) DC.
Fabaceae
Đại cương :
Danh pháp khoa học đồng nghĩa :
Glycine sinensis. Millettia chinensis. Rehsonia sinensis. Wisteria chinensis. Wisteria praecox
▪ Danh pháp thông thường : 
Người Pháp gọi là glycine ( Fr ), cũng được gọi là « glycine de chine » hoặc « Glycine du Japon ».
Việt Nam gọi là Hoa Tử đằng hay Hoa Chu đằng.
Ngoài ta tại Nhật Bản có loài tương tự như Wistenia floribunda, rất phổ biến, Việt Nam gọi là Tử đằng Nhật Bản,
Cây Hoa Tử đằng tàu Wisteria sinesis, là một thành viên của họ Fabaceae hay họ đậu légumineuses và giống Wisteria gồm khoảng 10 loài bản địa của miền đông Hoa Kỳ, Tàu, Đại Hàn, và Nhật Bản ( tại Nhật Bản có loài floribunda ).
Tên của giống Wisteria được đặt ra bởi nhà Thực vật học botaniste và động vật học zoologiste Anglais Thomas Nuttall sanh năm 5 janvier 1786, chết năm 10 septembre 1859, để vinh danh Dr Caspar Wistar một Bác sỉ người Mỹ và là nhà giải phẩu học.
Hoa Tử đằng Wisteria chinensis, có lẽ là một dây leo bò phổ biến nhất của những loài thực vật dây leo. Phải nói rằng nó có hai lợi thế là nó đáng chú ý nhất là hoa đẹpdễ trồng.
Cây có nguồn gốc của những khu rừng ẩm của Tàu, Cây là một dây leo mạnh, thân ngấm chất mộc lignine theo tuổi, những nhánh già nhất của Cây trở thành gỗ với một vỏ cứng.
Nó khó khăn để sống trong những vùng chịu đựng zones de rusticité có nghĩa là những vùng mà môi trường sống của thực vật phải chịu đựng để sống, như để chịu được nhiệt độ tối thiểu …và thích những đất ẩm ướt.
Nó được xem như chịu được với bóng râm, nhưng nó chỉ trổ hoa khi nó được tiếp xúc với ánh nắng mặt trời một phần hay hoàn toàn.
Nó cũng sẽ chỉ trổ hoa khi nó trải qua từ giai đoạn thành niên tới trưởng thành, quá trình chuyển đổi này có thể mất đến 20 năm. Nó có thể sống hơn 100 năm.
Thuyền trưởng Richard Rawes người Ấn Độ ở Đông Ấn Độ Warren Hastings đã mang nó từ bên tàu sang Anh Quốc Grande-Bretagne vào năm 1816, nơi đây lan rộng sang Châu Âu và trong Bắc Mỹ Amérique du Nord.
Nó đã định vị như một dây leo rất phổ biên cho những vườn hoa gia đình do phát hoa đẹp của nó.
Nó trở thành một loài xâm lấn ở những khu vực miền đông Hoa Kỳ, nơi mà có khí hậu tương tự ở Tàu.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Dây leo bò, sống lâu năm, một thân Tử đằng già, chánh, phân nhánh nhiều, hình trụ, có thể có chu vi đạt đến 50 cm và từ 15 đến 25 m dài. Cây không có móc hoặc tua cuốn để bám vào những đài vật nhưng những nhánh của nó quấn chung quanh đài vật trong tự nhiên trong chiều ngược với kim của đồng hồ.
Sự tăng trưởng của những Cây non, không ngấm chất mộc lignine, là rất nhanh, nó lớn tới vai m trong một mùa. Cây có thể đạt đến 30 m dài, được hỗ trợ bởi những Cây hoặc phát triển đôi theo chiều ngược với kim đồng hồ, đây là lý do mà người ta trồng để sử dụng làm những mái hiên che mát hoặc những giàn che.
Nếu Cây không cắt tỉa Cây Tử đằng lan rộng xâm lấn có thể làm thấm nước những mái nhà hoặc những hàng rào. Cắt tỉa tạo thành những Cây nhỏ bonsai với những thân ngắn có đốt.
Vỏ Cây láng trơn và màu xám.
, màu xanh lá cây sáng, lá kép lẽ với nhiều lá phụ từ 7 đến 13 lá (ở loài Wisteria floribunda 13 – 19 lá phụ ), hình tròn dài từ 15 đến 20 cm. Những tàn lá tươi sáng và màu vàng vào mùa thu, những lá xuất hiện sau khi trổ hoa vào mùa xuân, thậm chí những hoa còn có giá trị hơn.
Phát hoa, chùm, đến 30 cm dài thòng rủ xuống, cho những loài điển hình của những hoa màu tím, rất dễ chịu có mùi thơm.
Vào mùa xuân, trước khi những chiếc lá đầu tiên, nhiều chùm hoa phát triển trên những nhánh thân mới, nhưng gần những thân chính cứng ngấm chất mộc lignine.
Hoa, rất nhiều, trong một chùm dài thòng xuống (20-30 cm, đến 50 cm  và nhiều hơn nữa ở loài Tử đằng Nhật Bản Wisteria floribunda), đôi khi màu trắng, thường thì màu tử đinh hương  lilas rất nhạt với nhiều hay ít đậm, và thơm, với dấu đỉa mật ở trung tâm của cờ.
Nó xuất hiện vào đầu mùa xuân trước khi những chiếc lá đầu tiên và người thấy thường nhất với một phát hoa thứ hai rời rạc ở mùa hè hoặc mùa thu.
Trái, quả đậu lớn, có lông, vỏ xanh màu nâu, từ 5 đến 10 cm dài, bên trong chứa từ 3 đến 5 hạt màu nâu, phẳng và tròn khoảng 1 cm đường kính. Sau khi chín trưởng thành phóng thích những hạt bên trong, vỏ đậu thường tồn tại kéo dài sang mùa đông .
Bộ phận sử dụng :
Những hạt,
Có thể là những thân và những hoa, sử dụng ở bên tàu.
Thành phần hóa học và dược chất :
▪ Theo những phân tích hóa học chimiques và hóa lý physico-chimiques, những hợp chất từ 2-9 đã được xác định như :
- orientine (2),
- isoorientin
- vitexen (4),
- isovitixen (5),
- apigenine (6),
- luteoline (7),
- acide oléanolique (8)
- và hedragénine (9), tương ứng.
▪ Một nghiên cứu khảo sát tài liệu cho thấy rằng trong nghiên cứu trước đây, có chứa :
- những phénylpropanoïdes,
- và những β-chromènes
đã được phân lập từ dầu của hoa Cây Tử đằng Wisteria sinensis và của nhiều loài của giống Wisteria đã được tìm thấy có chứa :
- những saponines de triterpène,
- những isoflavones,
- và lectines.
Đặc tính trị liệu :
▪ Những hạt của Cây Hoa Tử đằng Wisteria chinensis là :
- thuốc lợi tiểu diurétique.
Nó được sử dụng trong chữa trị :
- những bệnh tim mạch cardiaques.
Một báo cáo chỉ ra rằng những thân và những hoa Cây Tử đằng Wisteria sinensis cũng được sử dụng trong y học truyền thống tàu , nhưng không cung cấp thêm những thông tin.
Kinh nghiệm dân gian :
▪ Một điều thú vị được ghi nhận bởi nhiều nhà y học phương đông, sử dụng trích xuất mật đắng của giống Wisteria ( trên loài Wisteria floribunda ) để chữa trị :
- ung thư dạ dày cancer gastrique,
- và ung thư vú cancer du sein và bao tử estomac,
hoặc những bệnh nhân mắc phải :
- viêm khớp dạng thấp khớp arthrite rhumatoïde.
Nghiên cứu :
● Hoạt động chống ung thư anticancéreuse của trích xuất methanol của Cây Tử đằng Wisteria sinensis có thể là do những hoạt động tương ứng của những thành phần của trích xuất của flavonoïdes.
▪ Những nghiên cứu thí nghiệm trên động vật chỉ ra rằng một số nhất định những flavonoïdes có hoạt động chống ung bướu khối u antitumorale.
▪ Mô hình hydroxylation ( là một phản ứng hóa học bao gồm thêm vào một nhóm hydroxyl –- OH vào trong một phân tử ) của chu kỳ B của những flavones, như :
- lutéoline,
- và quercétine,
dường như ảnh hưởng một cách nghiêm trọng hoạt động của chúng, đặc biệt ức chế hoạt động chống tăng sinh antiproliférative của phân hóa tố protéin kinase.
Luteolin (7) là một thành viên quan trọng của gia đình của những flavonoïdes. Nó đã được báo cáo rằng chất này có thể ức chế sự tăng sinh prolifération của những tế bào ung bướu khối u cellules tumorales khác nhau, bao gồm :
- những khối u rắn tumeurs solides,
- ung thư tràn dịch màng bụng cancer des ascites,
- và ung thư bạch cầu dạng tủy xương leucémie myéloïde người.
là một bệnh tủy xương thuộc gia đình ung thư bạch cầu leucémie mãn tính, nó đặc trưng bởi sự gia tăng không kiểm soát được của những tế tào từ dòng tế bào tủy myéloïde như những đa nguyên tử polynucléaires.
Lutéoline cũng có thể nhạy cảm với một số yếu tố gây ra lập trình tự hủy apoptose bởi những cơ chế duy nhất.
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
Bộ phận độc hại toxiques :
Hạt giống Cây Tử đằng Wisteria sinensis, của tất cả những thành viên của giống Wisteria là :
- độc hại toxique.
▪ Vỏ Cây Tử đằng Wisteria sinensis có chứa :
- một glycoside,
- và một chất résine
cả hai đều là độc hại toxiques.
▪ Những hạtvỏ hạt Cây Hoa Tử đằng Wisteria chinensis có chứa :
- résine,
- và một glycoside được gọi là wistarine một glycoprotéine của loại lectine, độc hại.
Trong trường hợp ăn phải và có thể gây ra :
- buồn nôn nausées,
- những ói mữa vomissements,
- đau dạ dày douleurs à l’estomac,
- và tiêu chảy diarrhée.
Nó là nguyên nhân của những sự ngộ độc intoxications ở những trẻ em, ăn phải những hạt, của nhiều nước, gây ra :
- viêm dạ dày ruột gastro-entérite từ nhẹ đến nghiêm trọng .
▪ Đối với những động vật liên quan như những con ngựa, một sự hấp thu những cũng như những cành cây gây ra một cảm giác nóng đến một thời điểm mà nó không thể ăn uống từ 2 đến 3 ngày.
Ứng dụng :
● Ứng dụng khác :
Nguyên liệu sử dụng :
Một chất sợi từ những thân có thể được sử dụng để chế tạo giấy, chất sợi khoảng từ 1,3 đến 3,7 mm dài.
Những thân được thu hoạch vào mùa hè, những được loại bỏ, những thân được nấu chín cho đến khi những sợi có thể tước ra.
Những sợi được nấu chín khoảng 2 giờ với thuốc giặt quẩn áo và tiếp theo đưa  vào trong một máy nghiền bi trong 3 giờ.
Giấy có màu da bò buff.
Thực phẩm và biến chế :
Hạt giống, nấu chín,
▪▪▪ Một số lưu ý, về độc tính đã đề cập bên trên,
Hoa, được dùng nấu chín.
Nó phải được rửa sạch sau đó trộn với bột mì hoặc chế biến bằng cách chiên dòn beignets.
▪ Những Cây Tử đằng Wisteria sinensis có chứa acide allantoïque. Nó được sử dụng như một thay thế cho trà thé.
▪ Những lá non Cây Tử đằng Wisteria sinensis cũng được ăn.

Nguyễn thanh Vân

lundi 17 avril 2017

Tai lừa - Comfrey - Grande consoude

Grande consoude
Comfrey
Cây Tai lừa
Symphytum officinale - L.
Boraginaceae
Đại cương :
Danh pháp thông thường, theo những nước như :
▪ grande consoude,
oreille d'âne, orelhas de asno (Po).
langue de vache, oreille de vache (Fr),
▪ Common comfrey, consound, knitbone (En), Consolda maior, grande consolda.
▪ Việt Nam, tên gọi là Cây Tai lừa hay Tai bò.
Giống Symphytum, bao gồm khoảng 35 loài, có nguồn gốc ở Châu Âu và Tây Á . Nó không có những loài bản địa ở Châu Phi nhiệt đới.
Cây Tai lừa Symphytum officinale này có nguồn gốc ở Châu Âu Europe nơi đây nó lan rộng, và du nhập vào trong Bắc Mỹ và Châu Á. Người ta trồng trong nhiều nước ở Địa trung hải, Châu Phi và Châu Á.
Trong Châu Phi người ta sản xuất trong một quy mô nhỏ chủ yếu ở Madagascar và trong Nam Phi Afrique du Sud.
Cây Tai lừa Symphytum officinale, có mặt trong môi trường thiên nhiên trong những cánh đồng cỏ ẩm ướt và trên những bờ sông. Nó chịu được hầu hết những loại đất trừ những trường hợp quá cát hoặc quá khô và nó phát triển tốt trên những đất sét nặng.
Thảo dược Cây Tai lừa Symphytum officinale thường  được sử dụng dưới dạng bột nhão pâte, thuốc mỡ pommade, nước nấu sắc décoction, thuốc dán đắp cataplasme hoặc dung dịch trong cồn teinture.
Cây Tai lừa Symphytum officinale đã được sử dụng trong Nhật Bản như một rau xanh légume và trong Mỹ như chất phụ gia cho thực vật liệu pháp phytothérapie. Nó  đã được biết đến và đã được nghiên cứu từ khi hơn 2000 năm.
Thực vật và môi trường :
Mô tả thực vật :
Cây bụi, thân thảo sống lâu năm, thân cây với lá vuông, có lông thô, um tùm mập và lùn, có cánh rộng ở đỉnh ngọn và rỗng thường phân nhánh. Chiều cao thay đổi từ 30 cm đến 1,30 cm và Căn hành nạt thịt, rễ có thể đạt đến 1,80 m. Được đánh giá đúng ở những môi trường ẩm ướt. Sống thành tập đoàn trong Âu Châu, Turquie, trong những vùng dân da trắng caucasienne, nhưng, thông thường cũng thấy trong những vùng ôn đới Châu Á, Châu Úc và ở Bắc Mỹ Amérique du Nord.
, kết hợp thành búi lá giống như một đóa hoa hồng, có lông và dày, rất thô khi chạm vào, mọc cách, không có lá kèm, cuống lá đạt đến khoảng 10 cm dài, lá đính vào thân không cuống.
Lá đơn, phiến lá nguyên, hình bầu dục mũi dáo, kích thước đạt được 25 cm × 15 cm, kéo dài bên dưới trên cuống lá hoặc thân, đỉnh lá nhọn, gân lá hình lông chim.
Những lá bên dưới thấp và ở gốc rất lớn, đến 25,4 cm, dạng bầu dục và bao phủ bởi những lông cứng, gây ngứa khi chạm vào.
Phát hoa, tụ tán ở ngọn, hoa được bố trí theo cặp có một hình cong như đuôi bò cạp mà người ta gọi là dạng con bò cạp, không lá bắc, với nhiều hoa. Kích thước hoa giảm dần ở ngọn, hoa lớn gần thân và rủ xuống màu vàng hoặc vàng nhạt, mọc trên những thân nhỏ.
Hoa, lưỡng phái, đều  được bố trí ở một bên của thân cuống hoa, 5 phần, rủ xuống, cuống hoa dài 2-6 mm,với :
- đài hoa, với thùy mũi dáo.
- vành hoa, hình chuông, ống hình trụ từ 12 đến 18 mm dài và với thùy nhỏ màu trắng đến hường hoặc màu xanh tím, có vảy ở họng hoa.
- tiểu nhụy, đính vào giữa ống của vành hoa, chỉ ngắn.
- bầu noãn, thượng, 4 buồng, vòi nhụy mảnh mai, nuốm nhỏ và như đầu tròn..
Trái, bao gồm 4 nhân bóng sáng, hình trứng từ 5-6 mm dài, màu nâu đậm hoặc đen bóng, chứa bên trong đài hoa.
Bộ phận sử dụng :
Trong thực vật liệu pháp Phytothérapie, rễ và những bộ phận của Cây Tai lừa Symphytum officinale, được sử dụng làm thuốc.
▪ Những và những bộ phận trên không Cây Tai lừa Symphytum officinale được thu hoạch vào đầu mùa hè trước khi cây có hoa, những rễ được thu hoạch vào mùa thu. Cả hai được sấy khô bảo quản để sử dụng về sau .
Vào mùa thu, thời kỳ này chất allantoïne hiện diện trong rễ với một nồng độ cao. Trong khi những bộ phận trên không, những hiệu năng làm se thắt astringentes và chống viêm anti inflammatoire là vào mùa hè.
▪ Một phương thuốc vi lượng đồng căn homéopathique được pha chế từ rễ tươi Cây Tai lừa Symphytum officinale, được thu hoạch trước khi Cây trổ hoa.
Thành phần hóa học và dược chất :
● Những thành phần chủ yếu như :
- allantoïne,
- acides phénols,
- alcaloïdes,
- tanins,
- mucilages,
- terpenoïdes.
Cây Tai lừa Symphytum officinale cũng giàu bỡi những nguyên tố khoáng :
- calcium Ca,
- potassium K,
- phosphore P,
- sắt Fe,
- và silice Si.
▪ Tất cả bộ phận của Cây Tai lừa Symphytum officinale chứa :
- allantoïne (0, 5–1,7%),
- chất nhày mucilage (29%),
- những chất saponines triterpènes,
- choline,
- asparagine,
- những tanins (8–9% trong những bộ phận trên không,
- 4–6% trong căn hành rhizome),
- acide silicique (4%),
- và những alcaloïdes pyrrolizidiniques (0,003–0,2% trong Cây Tai lừa Symphytum officinale, đặc biệt trong những lá non,
- và 0,2–0,6% trong những  căn hành rhizomes).
▪ Những alcaloïdes pyrrolizidiniques chính là :
- intermédine,
- lycopsamine,
- 7-acétyllycopsamine,
- và 7-acétylintermédine.
• Hàm lượng chứa của chất allantoïne, giữa 0,6 và 0,8%, trong đó có những đặc tính của nó :
- hóa sẹo chữa lành vết thương cicatrisation.
thành phần chủ yếu để chữa bệnh là :
- allantoïne.
▪ Những thành phần có thể ngâm hoặc hòa tan trong nước nóng, trong đun sôi phải nên tránh, bởi vì đun sôi có thể gây ra sự phân hủy của allantoïne.
• Những acides phénoliques :
- acides rosmariniques,
- chloogènes,
- caféiques,
- và lithospermiques.
• Cây Tai lừa Symphytum officinale có chứa những hợp chất có tiềm năng gây độc gan hépatotoxiques :
- alcaloïdes de pyrrolizidine,
bao gồm :
- héliosupine,
- échimidine,
- héliosuipine,
- lycopsamine,
- symphytine,
- và cynoglossine.
Nồng độ alcaloïdes là cao nhất ở những lá nhỏ non
▪ Những rễ Cây Tai lừa Symphytum officinale cũng chứa cũng chứa ở mức độ cao của những thành phần hợp chất này.
• Nghiên cứu của những trích xuất hydroalcohiques đã xác định của những thành phần hợp chất hoạt động sinh học bioactifs như là :
- những tanins,
- terpénoïdes,
- stérols / triterpénoïdes,
- những flavonoïdes,
- những acides aminés,
- những chất khử agents réducteurs,
- những flavones,
- saponines,
- và những alcaloïdes.
• Nghiên cứu những trích xuất éthanoliques và nước cho được một tổng số hàm lượng :
- phénolique 116,93 mg GAE / g và 99,49 mg GAE / g, tương ứng.
• Nghiên cứu phân lập 3 alcaloïdes de pyrrolizidine từ những rễ :
- sympaine,
- symphytine,
- và echimidine.
Đặc tính trị liệu :
▪ Cây Tai lừa Symphytum officinale là một liệu pháp thực vật trị liệu phytothérapie được sử dụng phổ biến có một lịch sử lâu dài và được chứng minh trong chữa trị những đau bệnh khác nhau.
Rễ và những Cây Tai lừa Symphytum officinale được sử dụng, rễ hoạt động tích cực nhiều hơn, và nó có thể dùng bên trong cơ thể hoặc sử dụng bên ngoài như một thuốc dán đắp cataplasme.
▪ Cây Tai lừa Symphytum officinale đặc biệt lợi ích trong chữa trị bên ngoài cơ thể, như :
- những vết cắt coupures,
- những vết bầm tím ecchymoses,
- bong gân entorses,
- những vết thương loét plaies,
- chốc lỡ eczéma,
- giãn tĩnh mạch varices,
- những xương bị gãy os brisés, …v…v..
Bên trong cơ thể, nó được sử dụng trong chữa trị một loạt của những :
- đau bệnh phổi plaintes pulmonaires,
- nội xuất huyết saignements internes, …v…v….
▪ Cây Tai lừa Symphytum officinale chứa một chất gọi là « allantoïne  », là :
- một tăng sinh tế bào cellulaire proliferant,
- gia tốc quá trình của sự chữa lành bệnh vết thương guérison.
Chất này hiện nay được tổng hợp trong ngành dược phẩm pharmaceutique và được sử dụng trong những kem chữa trị crèmes curatives.
Rễ và những Cây Tai lừa Symphytum officinale là :
- không phương hại anodines,
- chất làm làm se thắt astringentes ( dịu mềm douces),
- làm bớt đau adoucissant,
- làm mềm émollientes,
- long đờm expectorantes,
- cầm máu hémostatiques,
- làm mát lạnh réfrigérantes,
- dễ bị tổn thương vulnérables.
▪ Điều này có một phạm vi rất giới hạn của sự ứng dụng, nhưng thể hiện một lợi ích rất lớn trong chữa trị :
- của những gẫy xương os brisés,
- và những chấn thương mắt lésions oculaires.
▪ Ủy Ban E chuyên khảo Commission allemande E Monographs, một hướng dẫn điều trị của thực vật liệu pháp, đã phê chuẩn Cây Tai lừa Symphytum officinale cho những vết thương cùn ( không nhọn ) blessures émoussées ( là những chấn thương do một lực cơ học chạm vào cơ thể bằng một vật thể không nhọn như cái chài, viên gạch, vách tường … ).
▪ Những lá tươi Cây Tai lừa Symphytum officinale dùng phổ biến trong thuốc dán đắp cataplasme trên :
- những vết thương loét plaies,
- những phỏng cháy brûlures,
- vết bầm tím ecchymoses,
- bong gân entorses,
- những vết chích côn trùng piqûres d’insectes,
- những đau nhức khớp xương articulations douloureuses,
- những giãn gân élongations tendineuses,
- gẫy xương fractures
- và những kích ứng da irritations de la peau.
▪ Trong nước nấu sắc décoction hoặc ngâm trong nước đun sôi infusion, những Cây Tai lừa Symphytum officinale trước đây dùng để chữa trị :
- bệnh cảm lạnh rhumes,
- những vấn đề của nướu răng problèmes de gencives,
- những bệnh thấp khớp rhumatismes,
- viêm khớp arthrite,
- bệnh thống phong goutte,
- bệnh tràng nhạc scrofule,
- bệnh viêm màng phổi pleurésie,
- bệnh huyết trắng, khí hư leucorrhée,
- những loét dạ dày- ruột ulcères gastro-intestinaux
và người ta sử dụng nó như :
- chống viêm anti-inflammatoire ;
nhưng dùng bên trong cơ thể thì không được đề nghị trong hiện nay ( déconseillé ).
▪ Những căn hành rhizomes sống được dùng phổ biến để săn sóc :
- những vết thương loét plaies,
- và những loét ulcères ( bao gồm loét dạ dày ulcères gastriques),
và những nước ngâm trong nước đun sôi infusions của những hoa dùng để chữa trị :
- bệnh ho toux,
- và tiêu chảy diarrhée.
● Những lợi ích được công nhận :
Những lợi ích của Cây Tai lừa Symphytum officinale trong kích hoạt của sự đổi mới của những tế bào cơ bắp cellules musculaires và xương osseuses, nhờ sự hiện diện mạch mẽ của thành phần allantoïnes, là thuốc y học đã được chứng minh.
Thí dụ, sự áp dụng của thuốc mỡ onguent với Cây Tai lừa Symphytum officinale trên :
- một sự bong gân entorse của mắt cá chân cheville
▪ Lá cũng có hiệu quả như một thuốc gel médicamenteux cơ bản chống viêm anti-inflammatoires không có stéroïde non stéroïdiens.
▪ Nó cũng được chứng minh rằng Cây Tai lừa Symphytum officinale gia tốc sự chữa lành vết thương loét trên một bề mặt lớn  plaies superficielles : một thuốc mỡ pommade, có một nguyên chất hoạt động principe actif lớn của Cây Tai lừa Symphytum officinale, có thể quy định, trong trường hợp :
- những đường nứt crevasses,
- ngứa prunie,
- vết trầy xước écorchures,
- những nứt trên bề mặt do lạnh hoặc khô hạn gerçures
- hoặc vết chích của côn trùng piqûres d'insectes.
▪ Để chữa trị những vết thương loét bề mặt plaies superficielles, sự sử dụng của nó cần thiết phải rửa sạch cẩn thận trước của những vết thương plaie.
Mặt khác, tất cả những gẫy xương nên chữa trị bằng những vật thể của một chữa trị y tế thích hợp mặc dù Cây Tai lừa Symphytum officinale có thể giúp cũng cố hợp nhất consolidation.
● Cơ chế hóa học :
▪ Nhiều trong những alcaloïdes pyrrolizidiniques của nó là độc hại toxiques và nhiều alcaloïdes đã được chứng minh là :
- gây độc gan hépatotoxiques,
- gây độc phổi pneumotoxiques,
- gây ung thư cancérigènes,
- và gây đột biến mutagènes.
Đây là lý do, trong đó nhiều nước ở Châu Âu, ra luật cấm sử dụng Cây Tai lừa Symphytum officinale vào bên trong cơ thể trong thực vật liệu pháp phytothérapie.
• Được xem như :
- chống ho antitussif,
- long đờm expectorant,
- cầm máu hémostatique,
- dễ bị tổn thương vulnératif,
- vi lượng đồng căn homéopathie.
Bên ngoài cơ thể, những chế phẩm cơ bản Cây Tai lừa Symphytum officinale sử dụng cho :
- những vết bầm tím ecchymoses,
- những sự giản, kéo dài ( trong giãn gân ) élongations,
- và những bong gân entorses
và sử dụng này được nổi tiếng là an toàn bởi vì thành phần alcaloïdes pyrrolizidiniques hấp thu bởi da là không đáng kể négligeable.
▪ Nhiều alcaloïdes pyrrolizidiniques là :
- không ăn được immangeables,
- và những gia cầm nên tránh chúng nếu có những thức ăn khác để gặm cỏ.
▪ Trong tất cả những bộ phận của Cây Tai lừa Symphytum officinale có chứa thành phần allantoïne, nhưng những căn hành rhizome chứa nhiều hơn ( cho đến 1,7% ).
Chất allantoïne, được biết cho những hiệu năng :
- làm êm dịu calmantes,
- làm mềm émollientes,
- và chống kích ứng anti-irritantes,
sử dụng trong những sản phẩm chống :
- mụn trứng cá acné,
- những chế phẩm chống nắng produits solaires,
- và những kem làm sạch lotions purifiantes.
▪ Trong một nghiên cứu được tiến hành trên những bệnh nhân mắc phải :
- chứng bong gân cấp tính entorses aiguës của mắt cá chân cheville,
hiệu quả qua da của một thuốc mỡ với trích xuất của căn hành rhizome Cây Tai lừa Symphytum officinale đã được chính thức xác nhận càng nhiều trong :
- sự giảm đau nhức của phù nề œdème.
▪ Một trích xuất thô của Cây Tai lừa Symphytum officinale hoàn toàn trưởng thành chỉ cho thấy rằng khi trong khi nó hoạt động yếu ở những chuột và không có hoạt động nào chống viêm anti-inflammatoire.
Chủ trị : indications
● Chỉ định chữa trị thông thường :
- gẫy xương fractures,
- vết đụn dập contusions,
- bong gân entorses,
nhờ thành phần allantoïne gia tăng sự hình thành của những tế bào mới nouvelles cellules, cho dù của khối lượng xương masse osseuse hoặc của da peau.
- viêm khớp arthrite,
- bệnh thống phong goutte,
- đau nhức  khớp xương articulations douloureuses,
- đau nhức cơ bắp douleurs musculaires,
- chuột rút crampes.
▪ Bệnh của da affections dermatologiques ( như là mụn trứng cá acné, vẩy nến psoriasis, những mụn nhọt furoncles),
▪ săn sóc những vết thương loét plaies ( vết cắt coupures và phỏng cháy brûlures),
▪ và giữ ẩm làn da hydratation de la peau.
● Những chỉ định chữa trị khác chứng minh :
Chữa trị bổ trợ :
- những nứt nẻ do lạnh …gerçures,
- đường nứt crevasses
- và vết chích côn trùng piqûres d'insectes
cũng như :
- ho khan toux sèches,
- những viêm miệng inflammations de la bouche,
- và rối loạn tiêu hóa troubles digestifs.
Kinh nghiệm dân gian :
▪ Trong Châu Phi, những sử dụng y học là rất hạn chế, ngoại trừ ở Madagascar nơi đây được sử dụng trong thuốc dán đắp cataplasme để :
- giảm đau analgésique.
▪ Trong Châu Âu, cũng như ở Madagascar, Cây Tai lừa Symphytum officinale trong trồng trọt như cà chua tomate và khoai tây pomme de terre để ngăn chận những bệnh vi khuẩn bactériennes (đặc bệnh bệnh héo do vi khuẩn Ralstonia solanacearum) và những côn trùng hủy hoại nghiêm trọng, và nó cũng dùng như phân xanh engrais vert và lớp rơm phủ trên mặt paillage.
▪ Trong dân gian, một nước nấu sắc décoction của những Cây Tai lừa Symphytum officinale được sử dụng cho những bệnh khác nhau :
- bệnh suyễn asthme,
- bệnh ho toux,
- loét ulcères,
- táo bón constipation,
- huyết áp cao hypertension.
Một thuốc dán đắp cataplasme của những lá tươi Cây Tai lừa Symphytum officinale được sử dụng cho :
- những bong gân entorses,
- và những gẫy xương fractures,
- viêm sưng enflure inflammatoire,
- những vết thương loét bên ngoài plaies externes,
- những vết thương blessure,
- những chân vận động viên pieds d'athlète,
- những phỏng cháy brûlures,
- những vết chích côn trùng piqûres d'insectes
- và những nhọt ung mũ abcès.
cũng được sử dụng cho :
- kinh nguyệt chảy quá nhiều menstruel excessif,
- bệnh ung thư cancer,
- đau ngực angine de poitrine,
- và bệnh nướu răng maladie des gencives
Nước ép jus của Cây Tai lừa Symphytum officinale được sử dụng cho :
- những bệnh da khác nhau affections cutanées,
- và sự hóa sẹo chữa lành những vết thương cicatrisation des plaies;
áp dụng 3 lần trong ngày.
▪ Nước nấu sắc décoction của trà thé như để ngủ sommeil.
▪ Dầu và thuốc mỡ onguent được sử dụng để chữa trị :
- mụn trứng cá acné,
- những mụn nhọt đầu đinh furoncles,
- và bệnh vảy nến psoriasis.
▪ Những rễ và những Cây Tai lừa Symphytum officinale được sử dụng cho :
- những xương gẫy os cassés,
- và những vết thương loét plaies.
▪ Trong y học truyền thống Ấn Độ Ayurveda, được sử dụng cho :
- bệnh loét dạ dày ulcère peptique.
▪ Trong dược điển pharmacopées polonaise, như Radix symphyti, đề nghị như :
- thuốc long đờm expectorant,
đặc biệt cho những trẻ em.
▪ Trong một số vùng ở Irlande, Cây Tai lừa Symphytum officinale được tiêu dùng như một phương thuốc cho sự tuần hoàn không tốt và máu nghèo, được xem như một phương thuốc hoàn toàn an toàn và vô hại.
Nghiên cứu :
● Nghiên cứu trên Cây Tai lừa Cây Tai lừa Symphytum officinale :
Nhiều nghiên cứu đã được tiến hành từ năm 1955, trong Grande-Bretagne, do Hiệp hội nghiên cứu Henry Doubleday (HDRA) và đã cho phép ra đời nhiều giống lai khác nhau.
Trong năm 1983, công trình khác đã tuyên bố rằng Cây Tai lừa Symphytum officinale chỉ là loài thực vật có chứa vitamine B12, thiết yếu cho chức năng tốt của não bộ cerveau.
Tuy nhiên, những kết quả này từ đó đã được được thử thách. Đây cũng trong những năm 1980 rằng sự hiện diện của một sự gây độc gan hépatotoxique trong Cây Tai lừa Symphytum officinale đã được chứng minh, điều này dẫn đến một số nhất định ở những nước, như Grande-Bretagne, Etats-Unis và Canada, đã hạn chế sự sử dụng.
● Hiệu quả đột biến mutagènes :
Hiệu quả đột biến mutagènes của trích xuất nước của Cây Tai lừa Symphytum officinale và của những phân đoạn alcaloïdales của nó
- Những dung dịch nước của những 3 phần đoạn alcaloïdes đã được nghiên cứu cho một hoạt động chống phân bào antimitotique và đột biến mutagène.
Những kết quả cho thấy rằng hoạt động đột biến mutagène gây ra bởi lasiocarpine, bởi phân đoạn 1 alcaloïdale và bởi những nước ngâm trong nước đun sôi infusions pha loãng của rễ Radix symphyti Cây Tai lừa Symphytum officinale.
Phân đoạn III không có một hiệu quả chống phân bào antimitotique.
● Liên quan đến trà thé những dược thảo / Chất Alcanaloïdes de pyrrolizidine / Gây độc gan Hépatotoxicité :
Phân tích những trà tisanes được chế tạo từ những Cây Tai lừa Symphytum officinale : một sự giảm của những oxydes-N cho kết quả trong thứ tự sự gia tăng độ lớn trong nồng độ chất alcaloïdes pyrrolizidine có thể đo được : nồng độ symphytineechimidine thay đổi đáng kể trong những chế phẩm khác nhau của trà thé.
Như những alcaloïdes được biết là gây độc gan hépatotoxiques, và bởi vì nồng độ của những alcaloïdes de pyrrolizidine có thể là được đánh giá thấp, sự tiêu thụ của trà thảo dược Cây Tai lừa Symphytum officinale, ở dưới dạng tự nhiên hoặc bao bì, nó không được đề nghị.
● Hiệu quả chống oxy hóa antioxydant / Sự tăng sinh prolifératif :
Nghiên cứu ở những chuột suisses albinos đã đánh giá những hiệu quả chống oxy hoá antioxydants và sự tăng sinh prolifératifs của những trích xuất nước aqueux và éthanoliques của Cây Tai lừa Symphytum officinale.
Một trích xuất éthanolique cho thấy một hoạt động làm sạch những gốc tự do mạnh nhất chống lại gốc DPPH (IC50 39,97 μg / ml) bởi so với trích xuất nước aqueux (IC50 96,21 μg / ml).
Trên thử nghiệm của sự tăng sinh prolifération tế bào, đã đánh giá trên những tế bào của nguyên bào sợi fibroblastes của chuột albinos suisses 3T3 bởi MTT và NRU, cả hai trích xuất cho thấy một hoạt động tăng sinh activité proliférative.
● Hiệu quả gan effets du Foie / Lá :
Một khảo sát nghiên cứu hiệu quả của trích xuất nước của những Cây Tai lừa Symphytum officinale trên gan chuột wistar trưởng thành. Những liều 0,4 ml, 0,6 ml và 0,8 ml của trích xuất nước đã được quản lý cho uống trong thời gian 28 ngày.
Những kết quả cho thấy rằng sự tiêu thụ của Cây Tai lừa Symphytum officinale với liều thâp hoặc với số lượng nhỏ không có một hiệu quả nào trên bình diện mô học histologique của gan foie.
Tuy nhiên, những liều cao hoặc quá mức đã dẫn đến một sự biến dạng distorsion nhẹ của sự xuất hiện mô học histologique của gan foie, bao gồm chứng to phì nhẹ hypertrophie légère của tĩnh mạch trung tâm veine centrale, một gia tăng tế bào cellularité accrue và một xơ hóa vách màng fibrose periportale của những tế bào gan cellules du foie.
● Chữa trị gẫy xương :
Báo cáo trình bày 4 trường hợp của những bệnh nhân bị gẫy xương fractures osseuses, được điều trị với sự giúp đở của phương thuốc vi lượng đồng căn homéopathique Cây Tai lừa Symphytum officinale sau khi sắp xếp đúng cách của những mãnh xương fragments osseux. Mặc dù một trường hợp thể hiện một gẫy xương mãnh vụn nghiêm trọng và hai nữa cho thấy một phù hợp xấu để cố định, kết quả chữa trị là rất tốt, lâm sàng và quang tuyến X. Những kết quả cho thấy rằng Cây Tai lừa Symphytum officinale có thể gia tốc sự phục hồi cứng rắn của những xương gãy os fracturés.
● Tác dụng phụ effets indésirables của khả năng sinh sản phái nam fertilité masculine / Hiệu quả gây độc hại dịch hoàn testiculaires toxiques :
Một nghiên cứu đã đánh giá hiệu quả của trích xuất nước của Cây Tai lừa Symphytum officinale trên khả năng sinh sản phái nam ở những chuột rats Wistar.
Những kết quả cho thấy rằng một liều gia tăng của trích xuất nước aqueux của những Cây Tai lừa Symphytum officinale dẫn đến những tổn thất trong biểu mô tinh hoàn épithélium testiculaire và của những hiệu quả có hại néfastes trên phẩm chất của tinh trùng sperme.
Những kết quả cho thấy những hiệu quả độc hại toxiques trong hình thái dịch hoàn morphologie testiculaire của những chuột rats.
● Nghiên cứu trên hoạt động gây ung thư cancérogène :
Một nghiên cứu đã đánh giá tính gây ung thu cancérogénicité của Cây Tai lừa Symphytum officinale ở những chuột ACI lai nuôi với những của Cây Tai lừa Symphytum officinale trong 480-600 ngày và những rễ của Cây Tai lừa Symphytum officinale cho những thời gian khác nhau. U tuyến adenomas tế bào gan được gây ra ở tất cả những nhóm thực nghiệm.
Hemangioendothelial sarcome có thể coi là khối u mạch máu có thể là lành tính cũng như ác tính tùy theo hoạt động cụ thể của nhóm của gan thường ít khi gây ra .
● Chống viêm anti-inflammatoire / Rễ :
Nghiên cứu đánh giá hiệu quả chống viêm anti-inflammatoire của trích xuất méthanolique của rễ Cây Tai lừa Symphytum officinale trong một mô hình viêm cấp tính inflammation aïgue bằng cách sử dụng một phù nề œdème gây ra bởi một trứng ở những chuột Wistar albinos.
Những kết quả cho thấy một quản lý cho uống của những trích xuất một cách đáng kể (p <0,05, p <0,01) đã ức chế phù nề œdème của chân chuột gây ra bởi lòng trắng trứng albumine thô. Hiệu quả ức chế tối đa đã được quan sát ở 750 mg / kg.
● Tiềm năng perspectives :
Dùng Cây Tai lừa Symphytum officinale trong thực vật liệu pháp phytothérapie phải được giới hạn trong sử dụng bên ngoài cơ thể, do sự hiện diện của những alcaloïdes pyrrolizidiniques độc hại toxiques. Hiệu quả của nó không có phản ứng phụ trong chữa trị :
- những bong gân entorses,
- những vết thương loét nhỏ petites plaies,
- và những kích ứng da irritations de la peau
đã được xác định bởi những thử nghiệm lâm sàng cliniques, và sử dụng Cây Tai lừa Symphytum officinale cho những lợi ích có thể mở rộng..
Hiệu quả xấu và rủi ro : 
● Mối quan tâm liên quan với độc tính toxicité và nghiên cứu an toàn :
• Gây độc gan Hépatotoxicité : Kể từ cuối những năm 70, chủ đề liên quan mối quan tâm và tranh luận dai dẳng trên một số nhất định hàm lượng alcaloïdes có thể gây ra :
-  tổn thương gan,
- bệnh gan foie veno-occlusive, là một tình trạng trong đó một số tĩnh mạch nhỏ trong gan bị tắc nghẽn, đây là biến chứng của hóa trị liệu cao được đưa ra trước khi cấy ghép tủy xương  (BMT ).
- bệnh cổ trướng ascite,
- và một xơ gan fibrose hépatique.
• En juillet 2001, FDA của États-Unis đã thực hiện những biện pháp để ngăn chận thương mại hóa Cây Tai lừa Symphytum officinale như một bổ sung thực phẩm.
• Những lời khuyến cáo được đưa ra để chống lại sự sử dụng Cây Tai lừa Symphytum officinale như một salade xanh hoặc trà thé.
● Cảnh báo :
▪ Cây Tai lừa Symphytum officinale phải được sử dụng ở những liều chỉ định và chủ yếu dùng bên ngoài cơ thể, do sự hiện diện của thành phần alcaloïdes pyrrolizidiniques, có thể gây ra :
- những tổn thương không thể đảo ngược của gan lésions irréversibles du foie.
▪ Một số thận trọng được đề nghị, tuy nhiên, đặc biệt trong sử dụng bên trong cơ thể của thảo dược.
Những áp dụng bên ngoài cơ thể và những trà tisanes hoặc những dung dịch có cồn teintures dùng uống bên trong cơ thể của những Cây Tai lừa Symphytum officinale được xem như hoàn toàn an toàn.
Nhưng những ứng dụng bên trong cơ thể của những viên nang gélules được xem như có quá nhiều bất lợi cho một sự sử dụng an toàn.
● Phòng ngừa sự sử dụng Cây Tai lừa Symphytum officinale
▪ Cây Tai lừa Symphytum officinale chứa những alcaloïdes pyrrolizidiniques phân lập, có thể với liều mạnh, chứng minh được rất độc hại cho gan foie.
▪ Đặc biệt, có sự hiện diện nhiều trong rễ, nó có số ít trong những bộ phận trên không. Đây là lý do thiết yếu không được sử dụng rễ bên trong cơ thể.
▪ Tránh sử dụng bằng đường uống : Có thể không an toàn dùng bởi đường uống. Tiềm năng cho độc tính gan toxicité hépatique.
▪ Có thể an toàn khi nó được sử dụng bởi đường tại chổ trên da nguyên vẹn không trầy tróc trong một lượng nhỏ trong thời gian dưới 10 ngày.
▪ Sự sử dụng phải giới hạn 4 đến 6 tuần trong năm với dưới 100 mcg thành phần alcaloïdes de pyrrolizidine không bảo hòa.
▪ Cây Tai lừa Symphytum officinale không được áp dụng trên những vết thương mở không lau rửa sạch. Mặt khác sự sử dụng của nó được giới hạn đến 3 ngày.
Tuy nhiên, với những vấn đề độc tính toxicité,  nó được đề nghị tìm những giải pháp khác thay.
● Chống chỉ định :
▪ Cây Tai lừa Symphytum officinale là chống chỉ định với những trẻ em, những phụ nữ mang thai và cho con bú và những người mắc phải bệnh gan maladies hépatiques.
● Hiệu quả có hại :
Ngoài một tiềm năng nguy cơ dị ứng allergique, nó không có tác dụng phụ nào được biêt.
Ứng dụng :
● Úng dụng y học :
Sử dụng bên trong cơ thể :
▪ Chống viêm Anti-inflammatoire :
Ngâm trong nước đun sôi infusion của Cây Tai lừa Symphytum officinale giúp chữa trị :
- những rối loạn tiêu hóa troubles digestifs,
- tiêu chảy diarrhées,
- và loét đại trường colites ulcéreuses.
▪ Làm se thắt Astringente :
Cây Tai lừa Symphytum officinale :
- giảm những đau nhức do viêm xương khớp arthose,
- đau bụng quặn crampes,
- hoặc dây thần kinh cơ bắp névralgies musculaires,
bằng cách cho phép thư giản những cơ muscles.
Sự hiện diện của một chất gây độc gan hépatotoxique bị giới hạn mạnh của sự sử dụng bên trong cơ thể.
Sử dụng bên ngoài cơ thể :
▪ Làm se thắt Astringente và hóa sẹo chữa lành vết thương cicatrisante :
Cây Tai lừa Symphytum officinale, được áp dụng trong băng gạt compresses, để chữa trị :
- những vết bầm tím contusions,
- bong gân entorses
- và những gẫy xương fractures.
Nó cũng có thể được sử dụng để săn sóc :
- những vết thương loét plaies,
▪ Chống viêm Anti-inflammatoire :
Nó làm giảm :
- những co thắt contractions,
- và những giản cơ bắp élongations musculaires.
Trong thuốc dán đắp cataplasme, Cây Tai lừa Symphytum officinale thanh lọc :
- những phổi poumons
và chữa trị :
- ho khan toux sèches.
Trong súc miệng bằng nước thuốc gargarismes hoặc trong nước súc miệng bains de bouche, nó hành động trên :
- những vết thương loét plaies,
- và những viêm khoang miệng inflammations de la cavité buccale.
▪ Chất làm mềm Emolliente :
Nó là rất lợi ích trong da liễu dermatologie chống lại :
- những nhọt đầu đinh furoncles,
- mụn trứng cá acné,
- bệnh vẫy nến psoriasis
- và nói chung, tất cả sự mất nước déshydratation của da peau.
▪ Làm dịu Adoucissante :
những chất nhầy của nó mucilages làm cho nó trở thành một chất bổ sung chữa trị rất tốt trong trường hợp :
- đường nứt crevasses
- hoặc vết nứt nẻ do lạnh hoặc khô gerçures,
- thậm chí cho những vết côn trùng cắn.
● Sử dụng khác :
Cây phát triển rất nhanh, sản xuất rất nhiều. Nó chịu được cắt nhiều lần trong mỗi năm và có thể được sử dụng để cung cấp « phân ủ ngay liền » cho những trồng trọt như là khoai tây pommes de terre.
▪ Đơn giản, xếp những lá vàng héo bên dưới cùng của lớp khoai tây hoặc sử dụng như lớp rôm trong khu vườn không đào bới.
Một thức ăn lỏng có thể thu được bằng cách ngâm những trong một lượng nhỏ nước trong thời gian 1 tuần, tuyệt hảo để trồng những loại Cây cần potassium như tomate chẳng hạn.
Những Cây Tai lừa Symphytum officinale cũng là một thành phần bổ sung rất có giá trị cho một đống phân ủ compost.
Một chất gôm cao su thu được từ những rễ đã được sử dụng cho cả hai trong xử lý len lain trước khi kéo sợi.
Thực phẩm và biến chế :
Lá non, dùng nấu chín hoặc sống  
có lông và có kết cấu chất nhày mucilagineuse. Nó có thể là có nhiều những nguyên tố khoáng, nhưng không phải là dễ chịu để ăn cho phần lớn hương vị.
▪ Những chồi non có thể sử dụng như một thay thế cho những măng tây asperges.
▪ Những thân trắng được sử dụng.
▪ Những quá già có thể sấy khô và sử dụng như trà.
▪ Những rễ bóc vỏ được cắt thành miếng nhỏ thêm vào trong súp soupes.
▪ Một trà thé được gồm có những và những rễ sấy khô .
▪ Những rễ rang được sử dụng với Bồ công Anh pissenlit và rễ của rau diếp chicorée để làm cà phê .

Nguyễn thanh Vân